23:44 ICT Thứ tư, 05/08/2020
"Sách là cửa ngõ dẫn đến tri thức" -  Tuyên ngôn UNESCO       "Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" -  V.I Lênin        "Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học ở lẫn nhau và học ở dân" - Hồ Chí Minh      

Menu

Đăng nhập thành viên

Liên kết thư viện

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá thế nào về website thư viện tỉnh Sơn La?

Rất tuyệt vời

Dễ thao tác sử dụng

Giao diện thân thiện với người sử dụng

Thuận tiện trao đổi và tra cứu tài liệu

Tất cả các ý kiến trên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 146


Hôm nayHôm nay : 18258

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 59060

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8083604

Trang nhất » Tin Tức - Sự Kiện » Tin tức thư viện

 
Phòng chống dịch virut nCoV
 

VĂN HÓA ĐỌC Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA

Thứ hai - 28/09/2015 09:28
                 Nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát trin của văn hóa đọc tại các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta
                  Vđịa lý, vùng miền núi phía Bắc là khu vực có diện tích lớn nhất nước ta với địa hình sơn địa và bán sơn địa, gồm các tỉnh Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Hòa Bình, Lai Châu, Lào Cai, Lạng Sơn, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái. Địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn... là những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có văn hóa đọc.
                 Vdân cư, hiện nay, vùng có trên 11 triệu người, trong đó, tỉnh có số lượng người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao là: Cao Bằng 93%, Hà Giang 90%, Lạng Sơn 86%, Sơn La 82%, Lai Châu 81%... Mỗi tỉnh tập trung nhiều thành phần tộc người, sống rải rác, phân tán, nên cần có những chương trình giáo dục, văn hóa khác nhau đối với mỗi địa bàn. Việc áp dụng các chính sách nhiều lúc gặp khó khăn do đặc điểm tộc người, đặc biệt là về nhận thức cũng như quan niệm, đặc điểm sống khác nhau.
               Vgiáo dục, theo số liệu điều tra của Tổng Cục Thống kê năm 2011, vùng trung du và miền núi phía Bắc có 34.602 giáo viên, 2.673 trường học, 552.664 học sinh. Trong đó có nhiều trường dân tộc nội trú, 84 trường cấp huyện, 15 trường cấp tỉnh và 5 trường do cấp Trung ương quản lý. Chất lượng giáo dục, đào tạo ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhìn chung còn thấp. Qua khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho thấy, chỉ số phát triển giáo dục ở các tỉnh này chưa đều, chỉ 3 tỉnh có chỉ số cao là Lạng Sơn, Phú Thọ, Hòa Bình, còn lại phần lớn các tỉnh khác rất thấp, số lượng học sinh giỏi rất ít, học sinh có học lực trung bình và yếu chiếm tới hơn 50%. Tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học vẫn còn nhiều. Đây cũng là nguyên nhân và hệ quả của vấn đề lười đọc sách báo của học sinh các tỉnh miền núi.
             Tình trạng mù chữ và tái mù chữ đang diễn ra khá phổ biến là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến nhu cầu đọc và văn hóa đọc ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số. Một phần do hiệu suất đào tạo ở khu vực này còn rất thấp, hiện vùng chiếm tới 4/7 tỉnh của cả nước có hiệu suất đào tạo dưới 50%, gồm: Cao Bằng 47,33%, Sơn La 42,67%, Lai Châu 37,6%, Hà Giang 21,76%. Hiện số người mù chữ còn chiếm tỷ lệ cao, do đó, sẽ có ít cơ hội cho người dân trong vùng tham gia học tập. Số người mù chữ ở Lào Cai có tới 12.504 người, Yên Bái có 9.431 người, Thái Nguyên có 3.645 người, Sơn La có 43.900 người... Đây thực sự là con số rất khó khắc phục trong thời gian ngắn và đặc biệt nó có ảnh hưởng không nhỏ đối với việc đọc sách báo trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.
             Vtrình độ và mức sống, các tỉnh miền núi phía Bắc tuy có những lợi thế nhất định, nhưng vẫn chưa thể tự cân đối được ngân sách mà chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước. Đặc biệt, tồn tại khoảng cách khá xa về mức sống và thu nhập của người dân giữa 2 khu vực Tây Bắc và Đông Bắc. Trình độ của người lao động toàn vùng được đánh giá là thấp so với mức trung bình toàn quốc, với tỷ lệ người tham gia lao động chưa từng đi học là 11,3% (tỷ lệ trung bình cả nước là 4,6%), tỷ lệ lao động đã tốt nghiệp trung học phổ thông và trên phổ thông ở toàn vùng là 22,6%. Dân số đang đi học đại học, cao đẳng đúng độ tuổi trên địa bàn chiếm 5,7% tổng dân số trên địa bàn. Số người thất nghiệp là 108.563 người. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển văn hóa đọc của người lao động, một lực lượng được coi là nòng cốt của phong trào đọc sách trong khu vực.
             Vcông tác xuất bản và phát hành sách, đây cũng là khó khăn cho việc phát triển văn hóa đọc ở vùng này. Sách bằng tiếng dân tộc thiểu số hiện nay ở nước ta xuất bản và phát hành còn quá ít. Mặc dù trong nhiều năm qua hệ thống các cơ quan báo chí, xuất bản, in và phát hành đã có nhiều cố gắng để phục vụ đồng bào, song văn hóa đọc vẫn là một khâu còn thiếu và còn yếu đối với vùng dân tộc thiểu số. Một bộ phận dân cư (đặc biệt là trẻ em và phụ nữ) ở vùng sâu, vùng xa không biết tiếng Việt nên cũng không đọc được sách, báo tiếng Việt. Một số ít có điều kiện đọc, thường lựa chọn sách dễ hiểu, sách viết về dân tộc, địa phương mình. Bên cạnh đó, họ hay quan tâm tới những cuốn sách viết về gia đình, lối sống, văn hóa giải trí, những lĩnh vực đời thường gắn với cuộc sống hàng ngày của họ như: Phổ biến pháp luật, khoa học kỹ thuật nông nghiệp, y học...
           Hệ thng thư viện công cộng, là một thành tố tác động mạnh mẽ đến văn hóa đọc. Muốn phát triển văn hóa đọc phải có những chính sách đầu tư thích đáng cho thư viện nhằm tăng vốn tài liệu, cung cấp nhiều tác phẩm hay, bổ ích cho người đọc. Bên cạnh đó, cần đầu tư cơ sở vật chất để tạo nên môi trường đọc thân thiện, thu hút người đọc, đồng thời có những chính sách đào tạo cán bộ thư viện để họ có kỹ năng hướng dẫn và phục vụ người đọc. Văn hóa đọc ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số có tầm quan trọng rất lớn, nó góp phần tham gia phổ biến kiến thức, giáo dục cộng đồng, nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh cho đồng bào.
          Hiện nay, các tỉnh, thành phố ở vùng núi phía Bắc đã có các thư viện công cộng từ tỉnh đến huyện, xã, thôn, làng, bản. Theo số liệu thống kê 2014 của Vụ Thư viện, Bộ VHTTDL, miền núi phía Bắc có 14 thư viện tỉnh, 133 thư viện huyện và hàng ngàn thư viện/tủ sách cơ sở. Chỉ còn 3 huyện Nậm Nhùn, Tân Uyên, Tam Đường thuộc tỉnh Lai Châu chưa có thư viện. Trung bình mỗi thư viện xã, phường có từ 800 - 1.000 bản sách, 5-10 loại báo, tạp chí; mỗi tủ sách khu dân cư cũng có từ 300 - 500 bản sách, 2-3 loại báo, phục vụ từ 150 - 200 bạn đọc thường xuyên.
          Trước đây, thư viện cấp huyện hầu như chưa có trụ sở riêng, vẫn phải ở chung với cơ quan, tổ chức khác, hoặc phải thuê trụ sở. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, một số thư viện cấp huyện như: Mường La (Sơn La), Yên Bình (Yên Bái), Tràng Định (Lạng Sơn), Vị Xuyên (Hà Giang)... đã được Bộ VHTTDL hỗ trợ xây trụ sở thư viện.
Các thư viện tỉnh miền núi phía Bắc trung bình có khoảng 120 ngàn bản sách. Theo số liệu điều tra của Vụ Thư viện, năm 2014 kinh phí cấp cho 14 thư viện tỉnh vùng núi phía Bắc là 31.384.185.000 đồng, trong đó kinh phí cho bổ sung tài liệu là 3.565.620.000 đồng. Với số tiền như vậy, hàng năm, mỗi thư viện tỉnh bổ sung khoảng 1.000 - 2.000 bản sách, 150 - 200 loại báo, tạp chí.
           Về mặt nhân sự, các thư viện ở khu vực miền núi phía Bắc đã được cung cấp một lượng nhân lực khá, với 80% có trình độ đại học trở lên. Thư viện tỉnh có đông nhân viên hơn, còn cấp huyện thường chỉ có 1 người, một số thư viện thị xã, thành phố thuộc tỉnh có 3 người. Hơn nữa, trong những năm gần đây, kinh phí cấp cho thư viện đã tăng hơn, chủ yếu dành cho nguồn nhân lực. Ví dụ, Thư viện tỉnh Bắc Kạn năm 2014 được cấp 1.237 triệu đồng, trong đó 845 triệu dành cho con người, 262 triệu cho hoạt động chuyên môn.
           Bên cạnh đó, mạng lưới thư viện trường học của 14 tỉnh phía Bắc đã được hình thành và đang phát triển. Năm học 2012 - 2013, có 1.425 thư viện, trong đó 748 thư viện cấp tiểu học, 554 cấp THCS, 123 cấp THPT, với tổng số 374 giáo viên phụ trách và 21 nhân viên hợp đồng. Năm học 2013 -2014, có 1.560 thư viện, trong đó 771 thư viện cấp tiểu học, 665 cấp THCS, 124 cấp THPT, với tổng số 1.446 giáo viên phụ trách. Năm học 2014 - 2015, có 1.652 thư viện, trong đó 813 cấp tiểu học, 702 cấp THCS, 137 cấp THPT, với 1.508 giáo viên phụ trách. Như vậy, số lượng thư viện và giáo viên thư viện tại các cơ sở đều tăng.
           Bên cạnh đó còn phải kể đến thư viện ở các đồn biên phòng, đây là một loại hình có một đóng góp không nhỏ trong việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, sự nghiệp văn hóa, thông tin ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số nói chung, khu vực biên giới nói riêng.
           Các dân tộc miền núi phía Bắc cư trú lâu đời, giàu bản sắc và đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực văn hóa. Do địa hình phức tạp, dân cư phân tán, mặt bằng dân trí thấp, hạ tầng cơ sở kém phát triển nên đời sống vật chất, tinh thần gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước đã có những cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng, kháng chiến, vùng biên giới, hải đảo... Ở những vùng này, hoạt động văn hóa còn nghèo nàn, sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa so với thành thị còn lớn. Các chính sách tạo điều kiện để phát triển văn hóa nói chung, văn hóa đọc ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng. Tuy nhiên, trong thực tế, thói quen đọc sách không thường thấy ở khu vực miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
           Giải pháp phát triển văn hóa đọc ở các tỉnh miễn núi phía Bắc
           Tiếp tục hoàn thiện việc xây dựng, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển văn hóa đọc, trọng tâm là chính sách đầu tư phát triển thư viện, xuất bản, giáo dục, đào tạo. Đồng thời, gắn với việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong nhà trường theo Nghị quyết số 29 - NQ/TƯ ngày 11-4- 2014 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, việc thực hiện các nhiệm vụ đã phân công trong việc triển khai thực hiện chiến lược văn hóa đọc.
           Muốn phát triển được văn hóa đọc cũng như việc đọc thì con người phải biết chữ, phải có trình độ học vấn nhất định. Chính vì vậy, cần đẩy mạnh phổ cập giáo dục và xóa nạn mù chữ và chống tái mù chữ theo nghị định, chính sách của nhà nước.
           Bên cạnh đó, cần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo các cấp học. Quyết định số 1379/QĐ-TTg ngày 12 - 8 - 2013 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề các tỉnh vùng trung du, miền núi phía Bắc và các huyện phía Tây tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2013 - 2020, đặt mục tiêu, đến năm 2020, tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường ở tiểu học đạt 99%, THCS đạt 95%, PTTH đạt 70%, tỷ lệ trường phổ thông chuẩn quốc gia đạt 50%, trên 10% học sinh dân tộc thiểu số học trung học được học ở trường nội trú, tỷ lệ sinh viên người dân tộc thiểu số đạt trên 30% tổng số sinh viên các trường đại học, cao đẳng trong vùng...
          Thói quen đọc sách là yếu tố đặc biệt quan trọng trong phát triển văn hóa đọc. Muốn có thói quen đọc sách con người phải tự hình thành hoặc được người khác giúp hình thành. Trong vấn đề này, gia đình, nhà trường, thư viện, nhà xuất bản, công ty phát hành sách, phương tiện truyền thông và khoa học công nghệ đóng vai trò quan trọng.
           Ngoài ra, cần phát triển mạng lưới thư viện công cộng. Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 của nước ta đã đề ra phương hướng “Tiến tới tổ chức một mạng lưới thư viện công cộng rộng khắp, linh hoạt, phù hợp trên địa bàn cả nước; củng cố và xây dựng thư viện ở các quận, huyện, thị xã; đẩy mạnh phát triển thư viện ở cấp xã và phòng đọc sách ở xã, phường, cụm văn hóa, bưu điện - văn hóa xã ở các xã vùng cao, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số... Phấn đấu đạt 0,8 đến 01 bản sách/mỗi người dân trong thư viện công cộng, 50 - 70% số tài liệu quý hiếm trong thư viện cấp tỉnh được tin học hóa vào năm 2015 và năm 2020”... Lấy nhiệm vụ phục vụ cho công cuộc CNH, HĐH đất nước làm mục tiêu lựa chọn sách, xây dựng vốn tài liệu thư viện để cung cấp kịp thời cho bạn đọc, “Xây dựng phong trào đọc sách trong xã hội, góp phần xây dựng có hiệu quả thế hệ đọc tương lai”.
           Một trong những giải pháp quan trọng nữa đó là nâng cao chất lượng công tác xuất bản. Ngành xuất bản thực hiện tốt Quyết định số 115/QĐ-TTg ngày 16/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch phát triển xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Nhà nước cần có chính sách riêng cho Nxb Văn hóa dân tộc (hiện nay là Công ty TNHH MTV Nxb Văn hóa dân tộc) để phục vụ công tác xuất bản tài liệu chuyên về dân tộc thiểu số. Cần xây dựng một đội ngũ tác giả, dịch giả, các biên tập viên có năng lực, có tâm và trách nhiệm với nghề, để cho ra đời những cuốn sách có chất lượng về vùng miền núi phía Bắc nước ta.
           Cuối cùng, cần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa công tác phát triển văn hóa đọc. Bởi lẽ, đó là phưcmg pháp rất hữu hiệu để đưa văn hóa đọc đến gần hơn với vùng sâu, vùng xa. Điển hình là hoạt động quyên góp sách trong ngày Sách Việt Nam, hay các chương trình từ thiện của những tổ chức, cá nhân trong cả nước...

Tác giả bài viết: Đoàn Tiến Lộc ( Hoàng Huệ sưu tầm)

Nguồn tin: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 374( Tháng 8/2015)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn