20:11 EST Thứ ba, 18/02/2020
"Sách là cửa ngõ dẫn đến tri thức" -  Tuyên ngôn UNESCO       "Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" -  V.I Lênin        "Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học ở lẫn nhau và học ở dân" - Hồ Chí Minh      

Menu

Đăng nhập thành viên

Liên kết thư viện

Thăm dò ý kiến

Bạn biết website thư viện tỉnh Sơn La từ nguồn nào?

Qua báo chí trung ương

Qua mạng internet

Qua bạn bè, người thân

Tất cả các ý kiến trên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 12


Hôm nayHôm nay : 5719

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 79364

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6752700

Trang nhất » Tin Tức - Sự Kiện » Kỹ thuật bảo quản tài liệu

 
Chúc mừng năm mới Xuân Canh Tý
 

Chương 6: Quét ảnh chụp

Thứ sáu - 12/04/2013 01:07
Chương này đề cập đến những khía cạnh kỹ thuật và những khó khăn trong việc sử dụng kỹ thuật ảnh số để chuyển đổi các ảnh chụp và các tư liệu phim; định nghĩa và các đặc tính của ảnh chụp; khái niệm về chất lượng ảnh chụp; lựa chọn về mặt kỹ thuật trong quét ảnh, hiển thị, nén và sản lượng; và các phương pháp xác định chất lượng ảnh truyền thống và ảnh số quét từ các ảnh chụp và tư liệu phim.

 

Định nghĩa ảnh chụp (photograph)

Muốn chuyển đổi một ảnh chụp truyền thống sang dạng số thì trước hết bạn phải nắm được định nghĩa về ảnh chụp. Ảnh chụp là những hình ảnh được tạo ra do ảnh hưởng của ánh sáng đến một vật liệu có tính phản quang hoặc trong suốt. Những ảnh chụp điển hình thường có sự chuyển tiếp giữa các mảng trắng và đen. Đặc tính có vô vàn tông xám này đã được chúng ta biết đến với tên gọi "các gam màu chuyển tiếp" ("continuos tones").

Ảnh chụp khác với các phiên bản ảnh được in bằng mực trên máy in - gọi là các phiên bản ảnh cơ học (photomechanical reproduction). Để phân biệt ảnh chụp hay ảnh phiên bản, ta phải sử dụng kính phóng đại. Một gam màu chuyển tiếp trong ảnh chụp sẽ ở dạng không có vân, hoặc có vân mịn và các mảng màu hoà vào nhau. Ảnh phiên bản thường có vân tạo thành từ nhiều điểm hoặc đường vạch (như trong các ảnh nửa tông), hoặc có những đặc tính khác với ảnh gam chuyển tiếp. Các ảnh phiên bản là một thách thức lớn trong quá trình số hoá. Vấn đề này được giải quyết trong chương I.

Đặc tính của ảnh chụp

Toàn bộ các ảnh chụp có thể được chia thành 2 nhóm theo tiêu chuẩn ảnh đã được thấy bằng ánh sáng phản chiếu hay ánh sáng xuyên. Đó là điểm khác nhau cơ bản quyết định nhiều vấn đề khác trong số hoá. Ảnh phản quang phần lớn là những ảnh dương tính, còn ảnh được thấy bằng ánh sáng xuyên bao gồm cả phim dương tính và âm tính.

Một trong những tiêu chuẩn chất lượng cơ bản đối với ảnh chụp là dải biến động của ảnh, tức là khả năng biểu hiện nhiều gam màu giữa những vùng sáng nhất và tối nhất của ảnh. Dải biến động có thể được so sánh với số bát độ mà qua đó nhạc cụ tạo ra một nốt nhạc, hoặc dải tần trên bản chỉnh tần số của đài sóng trung AM: nó thể hiện giới hạn mà ta có thể điều chỉnh những thay đổi có nghĩa.

Thông thường mọi loại ảnh phản quang đều có dải biến động nhỏ hơn những âm bản đen trắng. Phần lớn các phim sao chụp và máy quét số đều bắt được toàn bộ dải biến động của ảnh phản quang. Một số âm bản đen trắng có dải biến động rộng hơn phim sao chụp và máy quét. Khi đó, một số chi tiết sáng hoặc tối sẽ bị mất. Các phim màu có dải biến động rộng nhất và do đó là những thách thức lớn nhất trong chuyển đổi, kể cả với những phương tiện chụp ảnh truyền thống hay số, mặc dù các máy quét và camera số mới nhất đã được cải tiến đáng kể về mặt này. Một trong những vấn đề của việc sử dụng camera số và "frame grabbers" (dụng cụ để số hoá tín hiệu video mô phỏng từ một máy quay truyền hình hoặc VCR) là tín hiệu video của chương trình truyền hình có dải biến động hạn chế và do đó một số thông tin của phim màu hoặc các hình ảnh khác có dải biến động rộng hơn bị mất.

Các ảnh chụp được phân loại bằng kiểu màu

Một trong những vấn đề về chất lượng ảnh số hoá là liệu có nên để chúng dưới dạng ảnh đen trắng hay không. Quyết định này không chỉ phụ thuộc vào tính chất của nguyên bản mà còn phụ thuộc vào tầm quan trọng của thông tin màu đối với mục đích sử dụng ảnh. Tuy nhiên, có thể chia các ảnh chụp thành 3 loại theo tiêu chuẩn về màu khi chúng được sử dụng vào mục đích số hoá:

Ảnh đủ màu (Full color) là những ảnh ghi lại trung thực các màu sắc của hình ảnh thật. Ảnh màu ra đời vào đầu thế kỷ 20 và trở nên phổ biến từ những năm 1950. Loại ảnh này gồm 3 nhóm:

Phim màu âm tính

Phim màu dương tính

Ảnh in màu

Ảnh đơn sắc (color momochromatic) là những ảnh chỉ gồm những hình ảnh màu đen, trắng và các gam xám (không ghi lại màu tự nhiên của hình ảnh thật) nhưng vẫn mang một số thông tin màu cần được ghi lại dưới dạng số. Rất nhiều quy trình in ảnh ở thế kỷ 19 có màu đặc trưng, ví dụ như màu nâu đỏ tía và màu xyan. Những màu sắc như vậy có ý nghĩa học thuật lớn vì chúng mang thông tin về các quy trình ảnh, phân biệt giữa nguyên bản với các phiên bản sau này và là dấu hiệu cho biết mức độ giảm chất lượng ảnh có thể xảy ra. Đôi khi những ảnh đơn sắc mang thông tin màu quan trọng như vậy được gọi là ảnh đen trắng có mảng chuyển tiếp.

Ảnh đen trắng là loại ảnh được chụp theo kiểu đơn sắc, trong đó các màu trung lập đều không mang thông tin quan trọng về màu sắc của hình ảnh, bao gồm chủ yếu là phim âm bản hoặc những ảnh in bạc - gelatin hiện đại trong thế kỷ 20. Loại ảnh này gồm 2 nhóm:

Âm bản phim hoặc kính đen trắng

Ảnh in bạc - gelatin

Các định dạng ảnh chụp

định dạng (format), nghĩa là kích thước và/ hoặc kiểu thể hiện nguyên bản, là một trong những mặt quan trọng nhất cần quan tâm khi chuyển đổi một sưu tập ảnh. Các định dạng điển hình của âm bản và phim đèn chiếu gồm:

35 mm

3 1/4" x 4 1/4" (phim đèn chiếu)

4" x 5"

5" x 7"

8" x 10"

Các âm bản có kích thước lớn lớn 35 mm thường chiếm ưu thế trong những sưu tập có từ trước những năm 1960. Đối với đĩa kính và phim trắng đen, 4 x 5 là kích thước thường gặp nhất, sau đó là 8 x 10. Đối với phim màu, do xuất hiện sau nên kích thước phổ biến là 35 mm, sau đó là 4 x 5.

Các định dạng ảnh in phong phú hơn các định dạng âm bản. Trong thế kỷ 19 và một phần thế kỷ 20, phần lớn các ảnh in được làm bằng cách tiếp xúc, vì vậy thường có cùng kích thước với âm bản. Thời gian này, những định dạng ảnh in phổ biến nhất là:

danh thiếp (2 thập niên 1860 - 1870)

cabinet card (1970 - 1910)

4 x 5 (1885 - 1910)

Vào thế kỷ mới, các camera sử dụng cuộn phim trở nên phổ biến hơn làm cho các định dạng ảnh in thêm phong phú. Những người chơi ảnh nghiệp dư thường thích những ảnh chụp nhanh cỡ nhỏ, còn các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp lại thích những ảnh in cùng kích thước với âm bản. Có lẽ các định dạng ảnh in phổ biến nhất sau năm 1910 là:

Bưu ảnh (1910 - 1930)

5" x 7"

8" x 10"

3 1/2" x 5" (sau năm 1960)

Sau năm 1960, sự phát triển rộng rãi của các âm bản phim thu nhỏ có kích thước 35 mm không làm ảnh hưởng đến sự thay đổi về kích thước ảnh in, trừ những ảnh nghiệp dư thường có kích thước 3 1/2" x 5". Nhìn chung, chất lượng ảnh in bị giảm khi phim 35mm trở nên phổ biến do phải dùng đến độ phóng đại cao.

Kích thước nguyên bản là một vấn đề chất lượng quan trọng trong việc chuyển đổi ảnh chụp truyền thống

Trước khi phát minh ra ảnh số, chuyển đổi bằng những phương tiện ảnh truyền thống giữ một vai trò quan trọng trong việc lưu trữ và khai thác các sưu tập ảnh. Chuyển đổi ảnh truyền thống đến nay vẫn là một công cụ quan trọng để quản lý ảnh, và thực tế vẫn là một khu vực phát triển trong các dự án khai thác có sử dụng kỹ thuật số, bởi vì các tư liệu ảnh vẫn là cần thiết ở một số quy trình số hoá nhất định. Ví dụ, hầu hết các dự án sử dụng công nghệ Kodak Photo CD đều cần đến các vật liệu phim truyền thống có kích thước 35 mm, đơn giản vì tất cả các chương trình quét ảnh chuyên nghiệp của Kodak hiện nay đều chỉ có thể số hoá bằng các máy quét phim 35 mm, 120 mm hay 4 x 5. Tất cả các nguyên bản dưới dạng ảnh in phản quang hoặc các định dạng (format) khác đều phải được sao chép vào phim trước khi chúng được số hoá. Vì vậy, cần phải xem xét ảnh hưởng của chất lượng ảnh đến quá trình sao chép các ảnh truyền thống, kể cả khi những vật liệu đó chỉ được sử dụng vào một mục đích duy nhất là tạo ra tệp số hoá.

Nói chung, nội dung thông tin của một ảnh chụp phụ thuộc vào diện tích hình ảnh. Việc sử dụng các âm bản kích thước lớn và các ảnh in tiếp xúc (contact print) trong suốt quá trình lịch sử của nghệ thuật chụp ảnh cho thấy rất nhiều hình ảnh có khả năng mang một lượng lớn thông tin thị giác. Định lượng nội dung thông tin của nguyên bản là một bước quan trọng của quá trình chuyển đổi ảnh.

Trong công nghệ chuyển đổi ảnh truyền thống (sao chụp truyền thống), các phim được sử dụng đều có "khả năng chứa thông tin" tương đương với các ảnh gốc, do đó để bắt được đầy đủ các chi tiết thì cần phải sử dụng các phương tiện sao chụp có kích thước bằng hoặc lớn hơn nguyên bản. Nếu sử dụng thấu kính trong sao chụp thì sẽ luôn có những thông tin bị mất do chính thấu kính, mặc dù điều này có thể được bù lại một phần bằng cách tăng diện tích phim sao chụp. Song sử dụng phim sao chụp có diện tích lớn hơn diện dích nguyên bản từ 4 lần trở lên thì thường không mang lại lợi ích kinh tế.

Thông tin sẽ luôn bị mất nếu phim sao chụp nhỏ hơn nguyên bản. Khi diện tích của ảnh trên phim sao chụp nhỏ hơn 1/4 diện tích ảnh nguyên bản thì lượng thông tin bị mất trở nên đáng kể. Khi kích thước bản sao nhỏ hơn nhiều lần bản gốc thì những thông tin quan trọng bị mất là điều không thể tránh khỏi. Một phim âm tính 35 mm chỉ có diện tích = 1/ 15 diện tích phim 4 x 5 = 1/25 diện tích phim 5 x 7 và = 1/50 diện tích phim 8 x 10.

Trong thực tiễn, kích cỡ gần nhỏ nhất (ví dụ, sử dụng phim 4x5 để chụp một nguyên bản cỡ 8x10) có thể dịch được một lượng thông tin thoả đáng, nhưng bất kỳ một kích cỡ nào nhỏ hơn đều làm mất thông tin. Sự mất mát đó là có thể chấp nhận được, nhưng chỉ khi có những đánh giá sáng suốt và hiểu biết về sự cân bằng giữa chi phí và chất lượng. Khi đã xét qua tất cả những nhân tố trên và nếu có thể thay thế các ảnh trung gian bằng ảnh gốc, thì chất lượng ảnh số sẽ cao hơn khi sử dụng ảnh gốc để quét.

Những khái niệm về chất lượng ảnh trong số hoá

Chất lượng ảnh có thể được chia thành các tham số khách quan (có thể được đo lường và so sánh nhờ các thiết bị và các vị trí kiểm tra) và các tham số chủ quan (liên quan đến những nhận thức và đánh giá của con người về bức ảnh đó). Cả hai khía cạnh đều quan trọng trong việc số hoá. Một vấn đề thực tiễn là phải nắm được khi nào thì kiểm soát chất lượng bằng các thiết bị đo lường khách quan thuần tuý, khi nào thì phải viện đến những đánh giá chủ quan và giá trị của mỗi cách đánh giá đó.

Có lẽ hầu hết chúng ta sẽ đồng tình rằng những yếu tố sau là những khái niệm cơ bản về chất lượng ảnh:

chi tiết (detail)

độ nét (sharpness)

vân (graininess)

sự tái tạo tông màu / tính tương phản

sự hài hoà và trung thực về màu sắc

3 yếu tố đầu tiên đều là những vi thuộc tính của ảnh, tức là chúng chỉ được nhìn thấy qua kính hiển vi, ngược lại với những thuộc tính như sự tái tạo tông màu hoặc sự hài hoà về màu, chỉ được đo lường qua diện tích ảnh lớn.

Chi tiết và độ phân giải

Chúng ta thường đồng nhất nội dung thông tin của ảnh chụp với lượng chi tiết mà nó chứa. Chi tiết là những phần có kích cỡ nhỏ của ảnh. Mục đích khi chuyển đổi ảnh là ghi được đầy đủ thông tin của nguyên bản, nhưng điều đó lại không thể thực hiện được. Vậy ta phải thoả hiệp như thế nào? Đơn vị đo khách quan tốt nhất đối với toàn bộ khả năng chứa thông tin của một hệ thống ảnh là MTF (Modulation Transfer Function), nhưng MTF trong thực tiễn lại không hề dễ đo.

Đơn vị đo khách quan thứ hai của chi tiết là khả năng phân giải (resolving power), tức là khả năng tách biệt các hoạ tiết hoặc đường nét tinh tế của ảnh. Khả năng phân giải được sử dụng trong các dự án số hoá để so sánh một cách khách quan giữa các giải pháp khác nhau được áp dụng khi quét ảnh hoặc đưa ra sản phẩm. Sử dụng bảng chuẩn để kiểm tra ảnh cũng là một cách định lượng mức độ chi tiết của một sưu tập ảnh, hay chính là khả năng mang thông tin của sưu tập đó (Xem chương 1, tr. 28.) Rõ ràng là khả năng phân giải sưu tập ảnh số càng cao thì số liệu được lưu giữ và chuyển đổi càng nhiều. Kích thước tệp sẽ tương ứng với độ phân giải và tổng diện tích của ảnh.

Một gợi ý về lựa chọn độ phân giải trong thực tiễn

Để đưa ra những quyết định đúng sao cho cân bằng giữa chi phí và chất lượng, khi đã xét xong mặt khách quan về tính chi tiết thì phải xét đến những mặt chủ quan. Thứ nhất là sức chứa thông tin tối đa (trong thực tế chính là khả năng phân giải cùng với số lượng mức xám) của hệ thống ảnh, và thứ hai là lượng thông tin thực. Các ảnh chụp kích thước lớn thường mang một lượng thông tin thị giác cực lớn nhưng thường không được tái hiện đầy đủ. Các ảnh được quét lại có khi chỉ chứa một lượng nhỏ những chi tiết quan trọng (như trường hợp nhiều bức chân dung), hoặc có khi ghi lại được chi tiết nhưng lại ở kích thước quá bé đối với mắt thường và do đó chỉ thấy được qua kính phóng đại. Liệu khả năng phóng đại của máy có quan trọng hay không, và phóng đại có làm hiển thị thêm thông tin thị giác hay không? Những câu hỏi như vậy chỉ có thể được trả lời với những nhóm ảnh cụ thể, bởi những người biết rõ những bức ảnh đó, và mục đích sử dụng những ảnh đó trong nghiên cứu.

Trong thực tế, việc xác định độ phân giải cần thiết trong số hoá đòi hỏi những cân nhắc kỹ lưỡng về mức độ chi tiết, theo cả đánh giá chủ quan và khách quan, cần được chuyển đổi để đáp ứng được những mục đích khai thác đã đặt ra. Phương pháp mà chúng tôi gợi ý là: trước hết, bạn hãy cân nhắc liệu nguyên bản có chứa những hoạ tiết rõ ràng có thể nhìn thấy qua kính phóng đại, hay những vân rất mịn như vết mực hay chì hay không. Hãy chọn lựa một số ít ảnh và lập danh sách các loại đặc tính riêng biệt có thể sử dụng vào việc xác định yêu cầu về mức độ chi tiết đối với những nguyên bản đó (phải đọc được các biển phố, lối dệt trên chất liệu vải, từng khuôn mặt trong ảnh một đám đông, v.v...)

Hãy cân nhắc kích cỡ của những hoạ tiết chủ chốt trong các ảnh nguyên bản. Những hoạ tiết đó càng bé thì càng cần có độ phân giải cao. Đồng thời phải cân nhắc kích thước tổng thể của nguyên bản: kích thước này quá lớn mà lại sử dụng độ phân giải cao sẽ làm tăng kích thước tệp lên gấp bội, gây khó khăn cho việc lưu và gọi số liệu, ảnh hưởng đến tốc độ của hệ thống máy tính nói chung. Khi đó, chắc chắn ta sẽ phải làm giảm kích thước tệp bằng cách làm giảm độ phân giải ở đầu vào. Vì vậy, hãy xác định xem độ phân giải nên thấp đến mức nào, chứ không phải là cao đến mức nào, trước khi chất lượng ảnh bị giảm quá mức. Có lẽ một giải pháp hay là bạn hãy quét thử nghiệm một số ảnh với những độ phân giải khác nhau và kiểm tra qua màn hình hoặc bản in để xem những ảnh đó có thể hiện được các đặc điểm đặc trưng hay không (ví dụ: các vân mịn, biển phố... là những đặc điểm có thể được coi là chuẩn chi tiết).

Nên sử dụng các đối tượng có khả năng phân giải chuẩn để xác định một cách khách quan những yêu cầu về độ phân giải của loại tư liệu đó. Phương pháp này sẽ bắt đầu với những nhu cầu chủ quan về các ảnh sưu tập được người quản lý sưu tập xác định, chứ không phải với những quyết định võ đoán về độ phân giải cần thiết ở đầu vào.

Nén ảnh và chất lượng ảnh

Những thuật toán nén được sử dụng thông dụng nhất đối với ảnh chụp là Kodak's Image Pac (được sử dụng với các tệp Kodak Photo CD, nhưng không nhất thiết phải dùng đĩa Photo CD) và JPEG. Theo tiêu chuẩn tuyệt đối, cả hai loại đều bị mất thông tin, mặc dù KIP bị hạn chế ở một độ nén nhất định và được coi là chỉ mất những thông tin không nhìn thấy. JPEG có nhiều tỉ số nén, song lệ thuộc vào ảnh và có liên quan đến những mất mát thông tin và chất lượng thị giác ở mức khoảng 10:1 đối với các ảnh chụp.

Tương tự như với khả năng phân giải, cách tốt nhất để xác định xem thuật toán và độ nén ảnh trong một dự án về ảnh số hoá đã phù hợp hay chưa là sử dụng các ảnh thử nghiệm đã được biết đến và phán xét về các sản phẩm cuối cùng dựa vào những đánh giá chủ quan và các chuẩn đặc trưng về chất lượng đã được xác định trước.

Độ nét và vân

Độ nét là một khía cạnh chủ quan của chất lượng ảnh, liên quan đến sự tương phản ở các ranh giới giữa vùng tối và vùng sáng của ảnh. Có thể tăng độ nét của ảnh số bằng cách xử lý các số liệu bằng phương pháp toán học để làm tăng mức độ chi tiết của ảnh. Về mặt khách quan, độ nét không làm tăng thêm lượng thông tin chứa trong ảnh, nhưng nó giúp cho thông tin trở nên dễ xem hơn. Độ nét trong ngành chụp ảnh chỉ có thể được đo đạc một cách khách quan nhờ những thiết bị đặc biệt. Trong ảnh số, các đơn vị đo độ nét mang bản chất toán học và thường được dùng với nghĩa tương đối. Do đó, độ nét cần có của hệ thống chuyển đổi ảnh số thường khó xác định một cách khách quan.

Vân là một tính chất chủ quan khác của ảnh, thể hiện sự phân bố không đồng nhất trong ảnh. Giống như độ nét, đơn vị đo khách quan của vân cũng tồn tại, song khó lòng ứng dụng được vào thực tiễn. Hai đặc tính này không tương quan với những ấn tượng chủ quan, do đó cách phán xét chúng hợp lý nhất là so sánh sản phẩm cuối cùng với nguyên bản và luôn cân nhắc đến các chuẩn đặc trưng về chi tiết ảnh trong quá trình phán xét đó.

Độ tương phản/ tái tạo tông màu

Tái tạo tông màu (tone reproduction) là mức độ mà ở đó khả năng biểu hiện độ sáng tối của cảnh thật (hoặc ảnh gốc trong trường hợp tái tạo ảnh) là yếu tố quan trọng nhất của chất lượng ảnh. Nội dung thông tin của ảnh không chỉ được xác định bằng những đặc tính về độ phân giải của ảnh mà còn bằng các mức độ sáng tối khác nhau cấu thành nên ảnh. Mục tiêu của việc tái tạo tông màu của ảnh là làm cho mức sáng tối của phiên bản phù hợp với mức sáng tối của nguyên bản. Về mặt khách quan, sự tái tạo này khó lòng đạt được bởi vì các phương tiện tái tạo thường có đặc tính khác với cảnh thực hoặc ảnh gốc và điều kiện xem ảnh cũng khác nhau. Cái tốt nhất mà chúng ta có thể hi vọng đạt được là sự tái tạo tông màu theo nghĩa chủ quan, tức là tái tạo ở mức xấp xỉ với độ sáng tối của nguyên bản.

Trong thực tiễn, ta có thể kiểm soát sự tái tạo tông màu bằng cách sử dụng bảng dải xám chuẩn (gray scale target) hay "bước đệm" ("step wedge") có dải mật độ rộng hơn phạm vi từ những gam màu sáng nhất đến những gam màu tối nhất của ảnh thật và có một số sắc thái trung gian với số lượng vừa phải để qua đó, những vùng sáng, mờ và tối có thể phân biệt nhau. Mỗi công cụ hiển thị ảnh đều ảnh hưởng đến sự tái tạo tông màu theo cách nhất định, do đó một điểm quan trọng là phải tìm cách tiêu chuẩn hoá cho những công cụ đó, sau đó mới xác định những đặc tính tái tạo tông màu của chúng qua những ảnh mà ta đang quan tâm. Kiểm soát khách quan sự tái tạo tông màu mới nghe có vẻ như dễ dàng, với bảng dải xám chuẩn là một chỗ dựa chắc chắn. Song, xác định được tất cả các mức độ sáng tối ở từng giai đoạn: quét ảnh, màn hình, bản in lại là một việc quá sức. May thay, bảng dải xám chuẩn có thể được đánh giá bằng mắt thường cũng như bằng các dụng cụ và các phép phân tích đồ hoạ hoặc toán học, và đó là cách tốt nhất để kiểm tra sự tái tạo tông màu qua các giai đoạn xử lý ảnh và đầu ra. Lưu ý rằng khi kiểm tra các tư liệu phản quang và trong suốt phải dùng những bảng dải xám chuẩn khác nhau, bởi vì các phim đèn chiếu và âm bản có dải biến động cao hơn.

Độ dài pixel và sự tái tạo tông màu trong kỹ thuật ảnh số

Trong khi các ảnh chụp được coi là có thể có vô số mức độ sáng tối chuyển tiếp sang nhau dần dần thì ảnh số lại có một số lượng giới hạn các mức chuyển tiếp đó. Tông màu của mỗi pixel trong ảnh số được mã hoá dưới dạng toán học, do đó khi ảnh được tái tạo thì màn hình và các thiết bị đầu ra biết được mức độ sáng tối ở từng khu vực của ảnh. Số lượng các mức sáng tối có thể hiển thị được chính là độ phân giải ánh sáng, hay số bit. Một dải xám gồm 8 bit sẽ bắt được 256 gam màu xám, tức là thừa đủ để tái tạo được tông màu của phần lớn các ảnh chụp theo đánh giá chủ quan, mặc dù đối với một số âm bản và phim đèn chiếu thì thông tin vẫn bị mất.

Giảm độ dài pixel là một khả năng khác để giảm kích thước tệp chứa ảnh số. Một trong những lợi ích của việc số hoá là hình ảnh có thể được biến đổi dễ dàng (theo phương pháp toán học) thành những ảnh có chất lượng thấp hơn để dễ dàng hiển thị hoặc bị thu nhỏ ở đầu ra. Những sự chuyển đổi đó có thể làm giảm kích thước tệp, độ phân giải và độ dài pixel. Tuy vậy, trong phần lớn các dự án về số hoá thì đây không phải là cách lựa chọn khôn ngoan nếu muốn đạt được chất lượng ảnh cao.

Màu sắc hài hoà và trung thực

Sự hài hoà và tính trung thực của phiên bản màu là những khía cạnh quan trọng trong vấn đề chất lượng ảnh. Những ảnh màu số chứa 3 "kênh" thông tin thị giác tách biệt, được đại diện bằng các sắc xanh lơ, đỏ và xanh lá cây. Kiểm soát tính trung thực về màu sắc là một việc phức tạp vì mỗi kênh màu phải được tối ưu hoá sao cho các sản phẩm cuối cùng được tái tạo là những ảnh đủ màu (full-color image). Ví dụ, bạn phải lưu ý rằng 3 màu lân quang tạo ra ảnh trên màn hình có đặc tính màu khác với màu mực của máy in. Khi đó, để có được sự tái tạo màu trung thực nhất ở mỗi dụng cụ, thì số lượng tương đối của các sắc tố và sự tương phản giữa các kênh màu phải khác nhau. Không thể đạt được kết quả tối ưu cho cả hai ở cùng một tệp số hoá.

Trong thực tiễn, sự tái tạo màu được kiểm soát bằng cách sử dụng các bước đệm màu, là những mảng chỉ chứa một màu thuần tuý: đỏ hay xanh lá cây, xanh lơ, xanh xyan, đỏ fucsin, vàng. Đỏ là màu thông dụng nhất trên màn hình, còn xanh lá cây là màu được sử dụng phổ biển trong các hệ thống in màu. Rất nhiều bảng màu chuẩn chứa rất nhiều màu sắc khác (xanh cỏ v.v...) để dùng trong một số trường hợp cụ thể. Thông thường, các mục tiêu này được sử dụng để "tiến đến gần" màu sắc thật theo đánh giá chủ quan chứ không theo các thử nghiệm khách quan khắt khe.

Kết luận

Chất lượng ảnh trong việc số hoá ảnh chụp liên quan đến:

Những hiểu biết về đặc tính và kiểu nguyên bản

Thiết lập các tiêu chuẩn thị giác đặc trưng cho từng nhóm ảnh

Thử nghiệm các ảnh đại diện, sử dụng nhiều hệ thống thực tiễn

Bao gồm khả năng phân giải, các mục tiêu dải xám và màu

Đánh giá kết quả qua màn hình và các thiết bị đầu ra

Lựa chọn sự cân bằng tối ưu giữa chi phí và chất lượng

Tác giả bài viết: James Reilly

Nguồn tin: www.nlv.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn