15:00 EDT Thứ bảy, 19/09/2020
"Sách là cửa ngõ dẫn đến tri thức" -  Tuyên ngôn UNESCO       "Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" -  V.I Lênin        "Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học ở lẫn nhau và học ở dân" - Hồ Chí Minh      

Menu

Đăng nhập thành viên

Liên kết thư viện

Thăm dò ý kiến

Bạn biết website thư viện tỉnh Sơn La từ nguồn nào?

Qua báo chí trung ương

Qua mạng internet

Qua bạn bè, người thân

Tất cả các ý kiến trên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 28

Máy chủ tìm kiếm : 5

Khách viếng thăm : 23


Hôm nayHôm nay : 11046

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 201555

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8570959

Trang nhất » Tin Tức - Sự Kiện » Địa chí Sơn La » Tài liệu địa chí » Giới thiệu sách

 
Phòng chống dịch virut nCoV
 

TỤC NGỮ THÁI

Thứ ba - 17/06/2014 05:09
            Dân tộc Thái cư trú rải rác ở các vùng phía Tây và Tây Bắc nước ta. Phần đông sống ở miền rừng núi, được thiên nhiên ưu đãi, cư dân Thái cùng các dân tộc anh em khác trải qua nhiều thế kỷ lao động dũng cảm, sáng tạo đã góp phần xây dựng tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu đẹp. Dân tộc Thái từ xa xưa đã hình thành nền kinh tế trồng trọt. Giá trị của lao động như được cân lên bằng tỷ lệ hợp lý: “Một hạt thóc chín giọt mồ hôi”. Trong quá trình sản xuất, cải tạo, chế ngự thiên nhiên, nhà nông đã sáng tạo, hình thành những câu tục ngữ đúc kết những kinh nghiệm có giá trị, lưu truyền trong nhân dân. Tục ngữ của dân tộc Thái rất phong phú về nội dung, rộng lớn và đa dạng về không gian được đề cập trong đời sống con người và xã hội.
Phản ánh một góc đời sống vật chất, sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc Thái, năm 1978, nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc phát hành tác phẩm “Tục ngữ Thái”.
            Với độ dày 156 trang tác phẩm "Tục ngữ Thái" tập hợp 936 câu tục ngữ, giới thiệu với bạn đọc hình ảnh quê hương, thiên nhiên, con người, kinh nghiệm lao động sản xuất, mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên, con người với lao động…
            Trong mối quan hệ với thiên nhiên, người Thái xem xét các hiện tượng thiên nhiên và đặt mối tương quan ảnh hưởng của thời tiết với đất đai, cây trồng, tác động của thiên nhiên đối với sản xuất và đời sống để rút ra những kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp: “Trăng đội nón sắt thì lụt/ Trăng đội nón đồng thì hạn”, “Mây đầy trời thì mưa/ Sao đầy trời thì nắng”, “Trời sẽ nắng sao chìm/ Trời sẽ mưa sao nháy”. Qua quan sát, tục ngữ Thái đúc kết về lịch mưa trong năm: “Tháng giêng mưa lâm dâm/ Tháng hai mưa rả rích/ Tháng ba nước về thăm bến/ Tháng tư nước úng đọng mặt phai…”. Khi  nói đến thời vụ, giống má, lao động, thì: “Đầu vụ, cấy vào đám cỏ cũng được ăn/ Cuối vụ, cấy trên vũng trâu đằm cũng chẳng được ăn”.
            Do tác động vào tự nhiên bằng lao động sáng tạo, tục ngữ Thái tư duy được   “nghìn người nghìn tính, nghìn cây nghìn lá”, nhưng qua phân tích sự vật và hiện tượng, tục ngữ Thái đã nói lên được phải trái, trắng đen. Về mối quan hệ giữa người làm và kẻ không làm, người chăm chỉ và kẻ lười biếng, qua đó khẳng định vai trò có tính chất quyết định của lao động: “Ra sức khai phá sẽ thành ruộng nương; ra sức xây dựng sẽ thành mường bản; kẻ lười biếng đói nghèo quanh năm”, “yêu người xốc vác, chuộng kẻ chăm làm”. Khả năng kỳ diệu của đôi bàn tay lao động: “Của tự làm ra như nước nguồn tuôn chảy/ Của mẹ cha để lại như trận lũ cuốn trôi”.
           Tục ngữ Thái lên án khá mạnh kẻ chây lười biếng nhác: “Biếng nhác người coi kinh”,  “tham ăn lắm phải túng thiếu, ngủ nghê nhiều sẽ nghèo khổ mà chết”.
           Dân tộc Thái ước mong: “Người chăm đầy mặt đất/ Đừng có kẻ ăn không”. Tục ngữ cũng nhắc nhở mọi người luôn đoàn kết, nhất trí: “Một người đừng khắc sống/ Phải theo đàn, theo lũ mới được”, “Vỗ tay cần nhiều ngón/ Bàn việc (kỹ) cần nhiều người”,“Tụ họp nhau mới vững”, “Bản mạnh vì sức dân/ Mường giàu vì đông người họp lại”. Từ đấy tình cảm sâu sắc tập hợp thành chuỗi tục ngữ như khẩu hiệu: “Yêu bản, kính mường/ Thương dân, kính dân”. … Tục ngữ Thái chắt đọng được sự tinh túy của nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ dân tộc: Với những câu ngắn gọn giàu hình ảnh. Với lối nói chỉ sự việc cụ thể tất yếu để diễn đạt ý lớn có tính chất khái quát, vừa sâu vừa rộng, để diễn đạt mối quan hệ giữa con người với con người, con người với đồ vật, gia súc: “Cuối mường người là đầu mường ta/ Trâu bò xổng xuống dưới, người dưới chăn giúp/ Voi, ngựa xổng lên trên, người trên buộc giùm/ Lợn, chó qua lại, gà vịt, bới quanh”…
            Là tiếng nói có vần điệu, dễ thuộc, dễ nhớ, tục ngữ Thái giúp người ta sử dụng dễ dàng, lời nói tiết kiệm và xúc tích: “Muốn sẹo trêu gấu/ Muốn sưng chọc ong/ Muốn nghèo khó ghẹo tạo trêu phìa”. Sự chú trọng vần vè, nhịp điệu trong tục ngữ là một trong những cơ sở phát triển thành cấu trúc thơ ca của người Thái như: “Nghe lời vịt mất trứng. Nghe lời gà mất vườn” đã biến thành lời của chị dâu khuyên em chồng trong “Xống chụ xon xao” rằng: “Em ơi, đừng nghe lời vịt! Nghe lời vịt sẽ mất trứng. Đừng nghe lời gà! Nghe lời gà sẽ mất vườn!”… ngoài ra, tục ngữ Thái sử dụng khá nhiều những tiếng tượng thanh, tượng hình và cả tượng cảm (tình cảm) nữa - một loại từ vốn không có nghĩa, nhất là khi chúng đứng riêng rẽ - để diễn đạt một ý sâu xa nào đó mà phải tưởng tượng mới hiểu được…
          Với nội dung phản ánh mang đậm cách cảm, cách nghĩ và bản sắc dân tộc Thái, tác phẩm “Tục ngữ Thái” đã mang tiếng nói, phong tục, tập quán, kinh nghiệm cuộc sống… đặc trưng của văn hóa dân tộc Thái đến với vườn hoa muôn màu muôn sắc của các dân tộc anh em, góp phần vào dòng chảy lớn của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam những mạch nguồn trong trẻo, mát lành.

Tác giả bài viết: Phòng Địa chí

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn