03:52 ICT Thứ bảy, 19/09/2020
"Sách là cửa ngõ dẫn đến tri thức" -  Tuyên ngôn UNESCO       "Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" -  V.I Lênin        "Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học ở lẫn nhau và học ở dân" - Hồ Chí Minh      

Menu

Đăng nhập thành viên

Liên kết thư viện

Thăm dò ý kiến

Bạn biết website thư viện tỉnh Sơn La từ nguồn nào?

Qua báo chí trung ương

Qua mạng internet

Qua bạn bè, người thân

Tất cả các ý kiến trên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 66

Máy chủ tìm kiếm : 33

Khách viếng thăm : 33


Hôm nayHôm nay : 1513

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 191045

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8560449

Trang nhất » Tin Tức - Sự Kiện » Bạn có biết?

 
Phòng chống dịch virut nCoV
 

TÔ HOÀI - NGƯỜI SINH RA ĐỂ VIẾT

Thứ ba - 15/07/2014 17:04
        1. Hơn 70 năm về trước, Tô Hoài đã cho "trước bạ” vào đời sống văn học một chú Dế Mèn. Sáng tạo một nhân vật Dế Mèn trong thế giới các sinh vật nhỏ bé giữa thiên nhiên, ở tuổi 20, Tô Hoài bộc lộ một tài năng xuất chúng về nhiều mặt. Đó là khả năng hóa thân vào sự sống của loài vật, đồng thời đưa lại cho thế giới loài vật sự sống của con người. Sự chung sống, sự hòa trộn, sự chuyển hóa của hai thế giới đã giúp cho bạn đọc cảm giác mở rộng, nhân lên các giới hạn sống trong một xã hội tù túng, ngột ngạt.
 
 
 
Nhà văn Tô Hoài
 
           Quả biết bao là vui thích, là sống động của cả một thế giới nhân vật (gồm cả nhân và vật) đã được mở rộng đến tối ưu các biên độ sống, dẫu tất cả chỉ diễn ra trong một khu vườn nhà hoặc một cánh đồng làng. Cái khu vườn vẫn chỉ nhỏ bé và thân thuộc nhưng lại khoáng đãng có thể chứa biết bao là cuộc rong chơi, du lịch cho dế, nó cũng chính là ước mơ của con người.
 
          Ở tuổi 20, ngòi bút Tô Hoài thật linh hoạt. Quan sát kỹ lưỡng và tinh tế. Ngôn ngữ tự nhiên mà giàu có. Thiên nhiên khoáng đãng mà thơ mộng. Nhân vật của ông đều có dáng riêng và sắc nét.
 
         Cái nhìn tinh nghịch, hóm hỉnh nhiều lúc như bông đùa, nghịch ngợm đã rất sớm bộc lộ nơi Tô Hoài trong những truyện viết về thế giới người và vật này. Sau ngót nửa thế kỷ cách mạng và chiến tranh, trở lại thời bình với những lo toan cho sự sống làm lụng, sinh nhai mới thấy hết giá trị của cách nhìn và miêu tả ở Tô Hoài. Không lên giọng. Không nhấn mạnh. Thậm chí không muốn có bất cứ sự can thiệp nào của một ý chí chủ quan, nhằm xác định một chủ đề tư tưởng, truyện Tô Hoài cứ tự nhiên mà thủ thỉ các tiếng nói hồn nhiên của bản thân sự sống.
 
         95 năm tuổi đời, hơn 70 năm tuổi nghề, tính cả trước và sau 1945 - một hành trình thật là dài trong tương ứng với đời người, với trước mặt những tựa sách vừa in, cùng với bao tựa sách đã và sẽ còn tái bản, Tô Hoài vẫn đang trong một hiện diện tròn đầy như chưa hề ngừng nghỉ, chưa hề bỏ cuộc, càng không lúc nào thua cuộc, Tô Hoài vẫn là "người cùng thời” với bao thế hệ người viết và người đọc từ nửa đầu thế kỷ trước cho đến hết thập niên đầu thế kỷ này.
 
           2. Khó mà nói trong các nguồn mạch làm nên dòng sông chủ nghĩa suốt hơn 70 năm viết của Tô Hoài mạch nào là chìm, mạch nào là nổi: Cách mạng và đời thường, hòa bình và chiến tranh, miền núi và miền xuôi, nông thôn và thành thị, những hồi ức riêng tư mà vẫn đậm đà dư vị xã hội… Chưa hết, còn truyện cho thiếu nhi, truyện cho lịch sử và dã sử… Hơn 70 năm viết, với trên 160 tên sách được ấn hành - đó là một khối lượng lao động đồ sộ, không ai trong các nhà văn hiện đại có thể so sánh được.
 
         Có chìm và nổi. Nhưng nổi hoặc chìm vẫn luôn dồi dào trữ lượng và mang sự sống riêng - sự sống Tô Hoài. Có sự sống dường như ông đã phải nỗ lực để nắm bắt nó, đó là hành trình ngược xuôi, ngang dọc Tây Bắc và Việt Bắc, kể từ 1948 là năm ra đời tập truyện "Núi Cứu Quốc”, đến 1988 - năm ông đặt vào vùng xa miền núi Mai Châu một nỗi nhớ xao xác: "Nhớ Mai Châu”… Có sự sống dường như tự nhiên mà đến, tự nhiên mà có, không cần đến một nỗ lực nào. Tôi muốn nói đến một mảng đề tài Hà Nội, nối dài từ "O chuột”, "Cỏ dại”, "Nhà nghèo” viết trước 1945 đến "Người ven thành” (1972), "Chuyện cũ Hà Nội” (2 tập; 1998 – 2000), "Cái áo tế” (2004) trong khoảng cách trên dưới 70 năm.
 
          Ở đề tài Hà Nội - ven đô rồi nội đô, Hà Nội mà ông vừa trải rộng vừa đào sâu vào thế giới bên ngoài và bên trong của nó. Hà Nội ấy luôn gắn với ông, ở cạnh ông, dẫn ông đi bất cứ đâu để thành một hành trang dày nặng để mỗi lúc soi nhìn nó, ông lại thấy thêm bao điều vừa quen thuộc, vừa mới lạ trong nếp sâu của phong tục và lối sống, và trong phân hóa của cộng đồng dân cư đang trải một chuyển động lớn trên khắp các ngõ ngách, phố xá, tầng triệt và tầng cao, hẻm sâu và mặt tiền…
 
 
  Một số cuốn sách của nhà văn Tô Hoài
Ảnh: Hà Phương
 
         3. "Hồi ức” và "Tự truyện” - đó là một mảng viết đặc sắc, nếu không nói là đặc sắc nhất của Tô Hoài, nơi một bộ nhớ tuyệt vời và một tuổi thọ khỏe mạnh, minh mẫn.
 
          Đọc Nam Cao thấy tiểu thuyết cứ như tự truyện. Đọc Tô Hoài lại thấy tự truyện cứ như tiểu thuyết. Kể từ "Cỏ dại” (1944) đến "Tự truyện” (1988), tôi bỗng ngạc nhiên không hiểu sao người ta có thể viết hay đến thế về mình, để qua mình mà hiểu người, hiểu đời, hơn thế hiểu cả một thời - nó là bầu khí quyển chung cho biết bao thế hệ cùng chung sống, cùng hít thở…
 
          Không phải đến "Tự truyện”, nhưng cũng phải chờ đến "Tự truyện” mới bộc lộ rõ rệt tiềm năng giàu có này ở Tô Hoài. Viết về tuổi thơ ở tuổi ngoài 20 trong "Cỏ dại”, rồi cũng lại viết về chính tuổi thơ ấy ở tuổi ngoài 50 trong "Tự truyện”… Rồi ở tuổi ngoài 60, 70 là sự mở rộng kho hồi ức để đến với biết bao lớp người cùng thời, cùng chung sống, cùng nghề nghiệp, trong "Cát bụi chân ai” (1992) và "Chiều chiều” (1999). Tác phẩm thì cứ đều đặn ra đời, vẫn trên cùng nguồn mạch mà người đọc chẳng thấy Tô Hoài vơi đi chút nào những trữ lượng bên trong nơi ông. Không chỉ cái nhìn sắc nét mà cái tình vẫn đủ mọi cung bậc như thuở nào. Một quá khứ luôn được ông dồn về hiện tại, được hiện tại hóa nhưng vẫn trong trang phục của quá khứ - đó là Tô Hoài.
 
        Đọc "Tự truyện”, "Cát bụi chân ai”, rồi "Chiều chiều”, người đọc luôn bị cuốn hút bởi những gì mới mẻ, không trùng lặp, không nhạt mờ, kém sút trong cái kho kỷ niệm lúc nào cũng dư đầy nơi Tô Hoài. Chẳng lên giọng, không quan trọng hóa, cũng chẳng cần phải ra bộ khiêm nhường, Tô Hoài cứ tự nhiên mà kể về những gì mình đã biết, đã trải qua trên dòng đời xuyên suốt thế kỷ. Một thế kỷ mà mỗi giai đoạn đều để lại những dấu ấn riêng của nó, để cho ta sống không chỉ với những thăng trầm, kịch biến của thời cuộc mà còn là những chuyện nhỏ nhặt, tỉ mẩn, riêng tư của đời thường mà thiếu nó quả khó mà hình dung được, với sự rõ nét và thú vị đến thế, về những ngày sống của ta và những người xung quanh ta trong cái thế kỷ XX gấp gáp và chất đầy những sự kiện sôi động này.

         4. Hà Nội trong đối sách giữa hai đầu thế kỷ là cách Tô Hoài giúp ta cảm nhận được khá rõ qua 2 tập "Chuyện cũ Hà Nội” và "Cái áo tế” (2004). Hà Nội còn lùi sâu hơn vào quá khứ để làm thành một đường dây gắn nối "Quê người” (1992) với "Quê nhà” (1980), "Mười năm” (1958) với "Người ven thành” (1972), "Kẻ cướp bến Bỏi” (1996)… Lịch sử - đó cũng là cảm hứng nổi đậm trong văn Tô Hoài, song song với cảm hứng về những miền sâu của ký ức riêng tư dường như cùng với ngót nửa thế kỷ quảng canh trên các địa danh vùng cao, Tô Hoài vẫn đồng thời chuẩn bị cho mình sự thâm canh theo chiều sâu lịch sử, nhằm gắn nối quá khứ với hiện tại nơi địa bàn Hà Nội. Khỏi phải nói đến sự dụng công của Tô Hoài trong nghiên cứu các thư tịch để cho cuộc sống đạt được khuôn mặt lịch sử mà không tùy tiện, bịa đặt. Khỏi phải nói niềm hăng say tìm kiếm mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng để đạt được một hòa sắc độc đáo về cái chất "Người ven thành” - như là thuộc tính của một cộng đồng dân cư, trong đó có chính tác giả. Đọc truyện Tô Hoài thấy rõ sự huy động tổng lực trí thức lịch sử, địa lý, văn hóa, phong tục… Đọc Tô Hoài thấy con người luôn là một sự cộng hưởng với thiên nhiên và lịch sử. Với biết bao khổ công, Tô Hoài viết thật dễ dàng nhưng không chút dễ dãi về tất cả những gì thuộc tầm quan sát và chú ý của ông. Và như thế, đến với Tô Hoài là đến với một người lao động thật ráo riết, thật kỳ khu và kiên nhẫn trên công cụ chữ nghĩa… Thế nhưng, người luôn luôn hiện diện để không bị quên lãng trong lòng bạn đọc, lại không phải là người lúc nào cũng vượt được những rào cản hữu hình hoặc vô hình nằm trong công luận và dư luận. Một trải nghiệm "Viết như chạy thi” trong 5 năm trước 1945; một uy tín luôn được bồi đắp; một cái tên quen thuộc thuộc thế hệ "tiền chiến” luôn đứng ở hàng đầu các bảng xếp hạng… cũng đâu phải là đủ để cho Tô Hoài lúc nào cũng có thể "thoát hiểm” trước các bề trên, hoặc "bơi lội” dễ dàng trong nền kinh tế thị trường… Là người viết chuyên tâm với nghề, "dẫu có làm nhiều nghề cũng chỉ vì nghề viết”, Tô Hoài phải có một bản lĩnh khôn khéo và cứng cỏi để tránh né hoặc chịu đựng; và ông cũng đã từng phải chịu đựng không ít các sức ép kể từ tuổi ngoài 20, tháng tháng đến ông chủ Tân Dâu nhận khoán viết từng kỳ, cho đến tuổi 80 với những bản thảo đã được chuẩn bị rất kỹ mà vẫn cứ phải cất vào kho, hoặc chờ đợi. Hiểu cặn kẽ mọi vui buồn, vinh nhục của nghề để nếu có niềm vui được chờ đón, xưng tụng thì cũng phải biết chấp nhận cái buồn của sự thờ ơ, ế ẩm. Không kể có khi còn là tai tiếng, hoặc những nặng nề của phán xét.
 
          Tô Hoài là thế. Đó là điều khiến ông tồn tại, lúc nào cũng tồn tại được trong khi biết bao cây bút thuộc thế hệ ông và sau ông đã phải tàn cuộc hoặc bỏ cuộc. Trong khi, có người chỉ còn sống với cái danh quá khứ, mất cái đó họ chỉ còn là con số không trong hiện tại.
 
          5. Trước 1945, trong chặng cuối của văn học hiện thực (1941 - 1945) là sự xuất hiện Nam Cao, Tô Hoài… Tô Hoài đứng bên Nam Cao với một diện mạo riêng, đủ sức làm nên một cuộc chạy tiếp sức cho đến 1945. Nếu ngừng viết ở 1945, Tô Hoài cũng đã là một tên tuổi đáng nhớ bên cạnh Nam Cao. Nhưng rồi cũng vẫn Tô Hoài thật sự dẻo dai trong hơn 70 năm viết tiếp theo, tính từ sau 1945 cho đến 2000, rồi 2010… Cuộc đi này mới thật là dài, những 12 lần hơn trước 1945. Nó không còn là cuộc "chạy thi”, mà là cuộc đi đường trường có lúc gấp gáp, có lúc nhẩn nha qua rất nhiều chặng, cùng với dăm bảy thế hệ người viết và với thế giới nhân vật khó nói hết sự đông đúc của nó trong không gian và thời gian.
 
                                                                                                                                                                        GS Phong Lê - www.baomoi.com
 
 

Tác giả bài viết: Thúy Hồng (sưu tầm)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn