21:21 EDT Thứ hai, 10/08/2020
"Sách là cửa ngõ dẫn đến tri thức" -  Tuyên ngôn UNESCO       "Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" -  V.I Lênin        "Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học ở lẫn nhau và học ở dân" - Hồ Chí Minh      

Menu

Đăng nhập thành viên

Liên kết thư viện

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá thế nào về website thư viện tỉnh Sơn La?

Rất tuyệt vời

Dễ thao tác sử dụng

Giao diện thân thiện với người sử dụng

Thuận tiện trao đổi và tra cứu tài liệu

Tất cả các ý kiến trên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 20


Hôm nayHôm nay : 8360

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 117129

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8141673

Trang nhất » Tin Tức - Sự Kiện » Bạn có biết?

 
Phòng chống dịch virut nCoV
 

NHỮNG VẦN THƠ HAY VỀ BIỂN ĐẢO

Thứ tư - 02/07/2014 03:03
          Không phải đến bây giờ, mà cách đây nửa thế kỷ, biển đảo quê hương luôn là đề tài hấp dẫn trong sáng tạo nghệ thuật đối với nhiều tầng lớp nghệ sĩ. Tuy nhiên những ngày gần đây, từ cuộc sống thường nhật đến các diễn đàn chính trị, khoa học, văn chương - nghệ thuật; từ người dân lao động đến các chính khách, nhà khoa học, nghệ sĩ… tất cả những ai mang trong mình dòng máu Việt Nam đều hướng ra biển Đông, nơi ấy có một phần máu thịt của Tổ quốc thân yêu đang bị xâm hại.
            Những vần thơ hay từ 1954 - 1975
            Như một lẽ thường tình, sau những năm tháng dài đánh đuổi giặc ngoại xâm trên đất liền, tan bóng quân xâm lược là tâm tưởng người dân đất Việt lại hướng về phía biển Đông. Giới nghệ sĩ nói chung và đặc biệt là các nhà thơ vốn là những người rất nhạy cảm trước những cơn ba đào của lịch sử nên họ không thể đứng ngoài, mà thường đi trước đón đầu tiên lượng về những điều sẽ xảy ra.
            Sau chiến thắng Điện Biên lừng lẫy địa cầu, trong quãng 10 năm từ 1954 - 1964, các nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây (1945 - 1954), đã lấy biển đảo quê hương làm nguồn cảm hứng cho các sáng tạo thi ca của mình. Hàng loạt các nhà thơ tên tuổi đều đã có những vần thơ hay về biển đảo quê hương. Nhà thơ Huy Cận có bài Đoàn thuyền đánh cá, Xuân Diệu có Biển, Văn Cao có Đảo, Hoàng Trung Thông có Biển…
            Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận như một bức tranh thủy mặc mô tả cảnh lao động của ngư dân ngày đêm bám biển đánh bắt cá tôm, làm giàu cho quê hương trong thời kỳ dựng xây đất nước: Mặt trời xuống biển như hòn lửa/ Sóng đã cài then, đêm sập cửa./ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,/ Câu hát căng buồm cùng gió khơi. Không khí lao động hăng say và sáng tạo của ngư dân đã mang lại nguồn thi hứng để Huy Cận viết nên những vần thơ này.  
             Ở bài thơ Biển, nhà thơ Xuân Diệu đã thực sự thăng hoa khi ngợi ca biển Việt Nam trong vẻ đẹp lung linh huyền ảo. Biển và bờ như một cặp tình nhân đắm say trong tình yêu đầu đời: Anh không xứng là biển xanh/ Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng/ Bờ cát dài phẳng lặng/ Soi ánh nắng pha lê/ Bờ đẹp đẽ cát vàng/ Thoai thoải hàng thông đứng/ Như lặng lẽ mơ màng/ Suốt ngàn năm bên sóng... Anh xin làm biển biếc/ Hôn mãi cát vàng em/ Hôn thật khẽ thật êm/ Hôn êm đềm mãi mãi/ Đã hôn rồi hôn lại/ Cho đến mãi muôn đời/ Đến tan cả đất trời/ Anh mới thôi dào dạt...
            Những vần thơ trên đã mang đến cho người đọc, nhất là thế hệ trẻ một tình yêu nồng nàn, đằm thắm đối với biển đảo quê hương. Biển và bờ như hình với bóng, luôn gắn quyện vào như cặp tình nhân. Hình thức nhân hóa biển và bờ một cách hết sức tài tình của ông vua thơ tình Xuân Diệu thực sự đã đem đến cho bài thơ một sức sống mới, sức sống của tuổi thanh xuân.
             Những vần thơ hay từ sau 1975
            Sau ngày đất nước sạch bóng quân xâm lược, đề tài biển đảo Tổ quốc như mạch ngầm trong mát, khiến các nhà thơ vừa bước ra từ cuộc chiến khốc liệt nhất trong lịch sử dân tộc không thể không bị choáng ngợp. Hàng loạt nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ như: Hữu Thỉnh, Bằng Việt, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm,… đến các nhà thơ hậu chiến như: Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Phan Quế Mai,… đều có những vần thơ hay về biển đảo.
            Nếu ở thời kỳ 1954 - 1964 chỉ có những bài thơ lẻ, thì đến thời kỳ sau 1975 đã xuất hiện thêm nhiều trường ca, một thể loại anh hùng ca thiên miêu tả cuộc sống và những người anh hùng trong chiến đấu. Tiêu biểu cho thể loại này có: Những người đi tới biển (1977) của Thanh Thảo, Trường ca Biển (1994) của Hữu Thỉnh, Hạ Thủy những giấc mơ (2013) của Nguyễn Hữu Quý,... Những bài tiêu biểu giai đoạn này có: Thuyền và biển của Xuân Quỳnh, Thơ tình người lính biển của Trần Đăng Khoa, Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến, Tổ quốc gọi tên của Nguyễn Phan Quế Mai.
             Nhà thơ Hữu Thỉnh vốn là anh lính xe tăng vừa thoát ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của toàn dân tộc, rất nhạy cảm và giàu suy tư khi ông bỏ ra tới 13 năm liền (1981 - 1994) như vắt kiệt sức để viết nên những vần thơ hay đến cháy lòng trong Trường ca Biển, tác phẩm được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật, 2012. Ở phần Lời của sóng 4, ông viết: Trên bãi cát những người lính đảo/ Ngồi ghép nhau bao nỗi nhớ nhà/ Chiều áo rộng vài vạt mây hờ hững/ Họ cứ ngồi như chum vại hứng mưa/…/ Đảo tái cát/ Khóc oan hồn trôi dạt/ Tao loạn thời bình/ Gió thắt ngang cây./…/ Đất hãy nhận những đứa con về cội/ Trong bao dung bóng mát của người/ Cây hãy gọi bàn tay về hái quả/ Võng gọi về nghe lại tiếng à ơi.../ À ơi tình cũ nghẹn lời/ Tham vàng bỏ ngãi kiếp người mong manh.
              Biển không chỉ có vẻ đẹp nên thơ ngày lặng sóng cho người ngư dân dong buồm, buông chài, thả lưới đánh bắt cá tôm và những lứa đôi hò hẹn chốn bãi bờ, mà biển còn có cả Tao loạn thời bình/ Gió thắt ngang cây. Để cuối cùng là À ơi tình cũ nghẹn lời/ Tham vàng bỏ ngãi kiếp người mong manh. Quả là đau, đau thật, khi người hàng xóm khổng lồ miệng lúc nào cũng hảo hảo mà lòng dạ đổi thay chỉ vì giấc mộng bá quyền mà họ nỡ tham vàng bỏ ngãi nghĩa tình dài lâu.
             Nguyễn Hữu Quý trong trường ca Hạ thủy những giấc mơ viết về biển đảo, lại có một cái nhìn khác đối với những người lính giữ canh chừng biển đảo như giữ làng. Bởi trong cái làng - biển ấy, luôn có mẹ ở bên. Mẹ dõi theo từng bước chân ta. Mẹ lẩn khuất vào từng cọng mồng tơi, rau dền, bông muống, quả ớt chín ngoài ô cửa sổ, vào từng câu dân ca ngọt ngào từ thuở ấu thơ, nên các anh nào đâu quản ngại: Dẫu biết đi không về/ lòng không nao núng/ hồn thiêng/ vằng vặc biển Đông.../ Trường Sa/ đồng đội tôi/ những người lính/ mặt trẻ/ tóc già/ những chàng trai tuổi mười tám, đôi mươi/ tóc lấm tấm bạc...
             Và để có thể đứng vững ngoài đảo xa canh giữ đất trời Tổ quốc, các anh buộc phải thích nghi, tìm ra một phương cách riêng để sống và chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược: Tồn tại ở Trường Sa/ phải bằng những tầm kích hợp lý/ phải biết cắm sâu/ cũng phải biết dẻo dai/ biết dồn tụ chắt chiu/ biết gồng mình chống đỡ/ thuộc biển/ thuộc trời/ nghe mây/ nhìn gió/ để không phải trả giá đắt hơn!/ Sức bền người có tính được không/ mà Trường Sa muôn lớp người trụ vững/ bão/ ta sống chung với bão/ hạn/ ta sống chung với hạn/ bạn/ còn gì hạnh phúc hơn khi sống có bạn bè/ thù/  không phải điều ta muốn...
             Bởi các anh ý thức rất rõ rằng, hơn ai hết nơi đảo xa, biển rộng, mẹ hiền Tổ quốc đang cần các anh làm lá chắn, cột mốc và chốt chặn cuối cùng để khẳng định ranh giới, địa phận của làng và cũng là chủ quyền của quốc gia: ...vì Tổ quốc/ chúng tôi là cột mốc/ chúng tôi là trận địa tiền duyên/ chúng tôi là lá chắn/ chúng tôi là bệ phóng/ chúng tôi là chốt chặn xâm lăng...
          Nguyễn Việt Chiến đã có một bài thơ khá hay về biển đảo. Anh nhìn biển đảo Việt Nam từ thẳm sâu lịch sử anh hùng chống giặc ngoại xâm của ông cha qua bài thơ Tổ quốc nhìn từ biểnNếu Tổ quốc đang bão giông từ biển/ Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa/ Ngàn năm trước con theo cha xuống biển/ Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa… Anh ý thức rất rõ ràng là Tổ quốc Việt Nam có thể được nhìn sáng rõ từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng dù ở góc độ nào thì Hoàng Sa, Trường Sa vẫn là của Việt Nam: Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo/ Lạc Long cha nay chưa thấy trở về/ Lời cha dặn phải giữ từng thước đất/ Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi/ Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể/ Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù/ Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ/ Thương Hòn Mê bão tố phía âm u/…/ Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo/ Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn/ Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy/ Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân/ Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả/ Những chàng trai ra đảo đã quên mình…
           Nữ nhà thơ trẻ Nguyễn Phan Quế Mai cảm thấy quặn lòng đau khi xương thịt của Tổ quốc mình bị kẻ thù cắn xé. Trong bài thơ Tổ quốc gọi tên chị đã thực sự xúc động khi viết những dòng thơ trĩu nặng, ám ảnh bao người: Đêm qua tôi nghe Tổ quốc gọi tên mình/ Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá/ Tiếng Tổ quốc vọng về từ biển cả/ Nơi bão tố dập dồn, chăng lưới, bủa vây/ Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi/ Bốn nghìn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ/ Thắp lên ngọn đuốc Hòa bình, bao người đã ngã/ Máu của người nhuộm mặn sóng biển Đông/ Ngày hôm nay kẻ lạ mặt rập rình…
           Có thể nói bất cứ lúc nào và với bất kỳ ai, biển đảo luôn là tiếng gọi thiêng liêng của non sông Việt Nam. Mỗi khi biển đảo dậy sóng bởi quân xâm lược xâm lấn dù chúng đến từ đâu cũng đều làm cho lòng ta nhói đau, hun đúc thêm sức mạnh đoàn kết quyết giữ cho bằng được chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
                                                                                                                                                          

Tác giả bài viết: Đỗ Ngọc Yên

Nguồn tin: trithucthoidai.vn - Hoàng Huệ sưu tầm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn