15:46 EDT Thứ sáu, 10/07/2020
"Sách là cửa ngõ dẫn đến tri thức" -  Tuyên ngôn UNESCO       "Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" -  V.I Lênin        "Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học ở lẫn nhau và học ở dân" - Hồ Chí Minh      

Menu

Đăng nhập thành viên

Liên kết thư viện

Thăm dò ý kiến

Bạn biết website thư viện tỉnh Sơn La từ nguồn nào?

Qua báo chí trung ương

Qua mạng internet

Qua bạn bè, người thân

Tất cả các ý kiến trên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 24


Hôm nayHôm nay : 7363

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 76004

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 7853413

Trang nhất » Tin Tức - Sự Kiện » Bạn có biết?

 
Phòng chống dịch virut nCoV
 

NGUỒN GỐC TẾT TRUNG THU

Thứ sáu - 05/09/2014 05:18
           Đã lâu lắm rồi, cứ đến ngày 15 tháng 8 âm lịch - nông lịch là tết Trung thu. Tết Trung thu còn được gọi là tết Nhi đồng.
          Theo lịch pháp cổ đại Trung Hoa thì tháng tám âm lịch, giữa mùa thu gọi là Trọng. Chữ Trọng có nghĩa là “đang ở giữa”. Ngày rằm tháng 8 là ngày ở giữa - Trọng thu vì thế gọi là Trung thu tiết hay Trọng thu tiết. Trong ngày này ánh trăng sáng hơn ngày thường, vì vậy nó còn gọi là Đêm trăng (Nguyệt tịch).
          Đêm Trung thu ánh trăng tỏa khắp nơi nơi, mọi người ngắm trăng sáng tròn vành vạnh như chiếc mâm ngọc, tự nhiên liên tưởng đến sự đoàn tụ của mọi người trong gia đình. Những người đang ở miền quê khác cứ nhìn khuôn trăng sáng đẹp như thế mà gửi gắm tình cảm nhớ nhung của mình về quê hương và người thân. Do đó, mọi người còn gọi tết Trung thu là Tết Đoàn viên (Đoàn viên tiết).
         Ở Trung Hoa thời cổ đại, trong dân gian mỗi lần đến tết Trung thu là có tục tế trăng, bái trăng và thưởng trăng. Theo ghi chép của một số sách cổ thì đời Đường (618 - 907), sau lễ cúng bái thần Trăng, còn có tục ngắm trăng - thưởng nguyệt, ăn bánh đoàn viên, uống rượu hoa quế, ngâm thơ, viết đối, mừng hạnh phúc, tỏ niềm hân hoan, vui sướng được hợp quần.
          Về câu chuyện thần thoại Hằng Nga bay lên mặt trăng đã được ghi chép trong sách Quý tàng thời Chiến quốc. Câu chuyện kể rằng:
          Tương truyền Hậu nghệ là một thiên thần tài giỏi, có người vợ tên là Hằng Nga hay Thường Nga. Khi Hậu Nghệ vắng nhà, Hằng Nga đã trộm thuốc trường sinh bất tử của Tây Vương Mẫu ở Côn Luân để uống. Thuốc thần thật kỳ diệu thay, Hằng Nga cảm thấy cơ thể lâng lâng, nhẹ bỗng rồi rời khỏi mặt đất bay ra khỏi nhà. Bên ngoài đêm đã xuống, da trời xanh biếc, ánh trăng sáng tỏa. Hằng Nga bay mãi, bay mãi lên cao… và bay lên tận mặt trăng!
          Từ đó về sau, người đời truyền tụng Hằng Nga bay lên cung trăng vào giữa mùa thu, tức ngày 15 tháng 8 lịch âm. Đó là ngày tết Trung thu.
          Từ xưa đến nay, nhân gian đã lấy hình tượng Hằng Nga và mặt trăng sáng đẹp để hòa với nhau. Người đời sau làm lễ bái trăng là để gửi gắm tâm nguyện “hoa đẹp, trăng tròn và con người trường thọ”. Cũng theo ghi chép của sử sách, các vua chúa cổ đại trước thời Tần - Hán quy định mùa xuân thì tế thần Mặt Trời và mùa thu thì tế thần Mặt Trăng. Sách Lễ ký còn ghi: Thiên tử buổi sáng mùa xuân thì ngắm Mặt Trời, đêm mùa thu thì ngắm Mặt Trăng”. Buổi sáng thì gọi là “triệu” (bắt đầu - của một ngày), đêm trăng gọi là “tịch” (ban đêm). Thời Tần - Hán rất coi trọng phong tục này. Đến đời Đường việc tế trăng lại càng được coi trọng. Thời Minh - Thanh (từ thế kỷ XIII cho đến đầu thế kỷ XX), Nguyệt Đàn ở Bắc Kinh là nơi để Hoàng đế bái trăng. Thời Từ Hi Thái Hậu của nhà Thanh, mỗi lần tết Trung thu thì ở Di Hòa Viên (Bắc Kinh) tổ chức lễ bái trăng rất linh đình. Bánh dùng bái trăng thường rất to, trên mặt chiếc bánh có hình cung Quảng Hàn, cây quế và hình ảnh Hằng Nga. Sau khi làm lễ bái trăng, bánh và hoa được đem ra phân phát cho các phi tần, thái giám và thị nữ trong hoàng cung.
          Trong dân gian, phong tục tế trăng Trung thu cũng rất đa dạng. Đúng giờ ngắm trăng vui tết, tất cả phụ nữ đều trở về nhà để dự buổi “đoàn viên”. Mọi người trong nhà uống rượu đoàn viên, ăn bánh đoàn viên và ăn cơm ngắm trăng (thưởng nguyệt phạn). Bánh đoàn viên tức bánh trung thu ngày nay.
          Việc cử lễ ngắm trăng thì thời Ngụy - Tần đã có. Mỗi khi đến ngày này, các tửu lâu đều được trang hoàng rực rỡ. Ngoài việc tế trăng, ngắm trăng, ở vùng An Huy, thiếu niên, nhi đồng còn tổ chức “múa rồng cỏ” (Vũ thảo long). Ở nông thôn tỉnh Quảng Đông có tục tổ chức đêm hoa đăng, dùng giấy màu, giấy bóng để làm nên hình dạng con cá, con tôm có thắp đèn cầy bên trong rất rực rỡ. Bên ngoài đèn nổi bật dòng chữ “Chúc mừng Trung thu” (Khánh chúc Trung thu) và “Hoa đẹp trăng tròn” (Hoa hảo nguyệt viên).
          Ăn bánh trung thu là nội dung quan trọng của ngày tết Trung thu. Bánh trung thu thời xưa làm rất nhỏ, gọi là “tiểu binh” (bánh nhỏ), hoặc “cam binh” (bánh ngọt), vốn là lễ vật để dâng lên thần Mặt Trăng. Theo ghi chép của sử sách thì kinh thành Tràng An đời Đường đã có tiệm bánh Trung thu. Đến đời Tống thì việc làm bánh Trung thu rất thịnh hành và chúng đã xuất hiện khắp kinh thành.
          Còn ở Việt Nam, tết Trung thu có từ khi nào? Việc này chẳng thấy sử sách nào ghi chép, nhưng có thể có từ thời xa xưa, được du nhập qua các thời kỳ Bắc thuộc, rồi Minh thuộc. Tết Trung Thu với các tục tế trăng, ngắm trăng, ngâm thơ - vịnh nguyệt  chỉ giới hạn ở các bậc vua chúa, hoàng thân quốc thích và các quan lại của triều đình xưa. Về sau, tết Trung thu mới được phổ biến ra ngoài dân gian. Tục ăn tết Trung thu rất thịnh hành dưới thời Pháp thuộc. Các tỉnh thành đều có múa lân, chưng cộ, trẻ con vui chơi với các loại đèn Trung thu như đèn cá trắm, đèn trái ấu, đèn kéo quân, đèn ông sao… được người lớn phát cho quà bánh gọi là bánh Trung thu.
                                                      

Tác giả bài viết: Bích Hà (sưu tầm)

Nguồn tin: Báo Dân tộc & Thời đại.- Số 46.- Tháng 9/2002

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn