00:01 ICT Thứ năm, 06/08/2020
"Sách là cửa ngõ dẫn đến tri thức" -  Tuyên ngôn UNESCO       "Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" -  V.I Lênin        "Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học ở lẫn nhau và học ở dân" - Hồ Chí Minh      

Menu

Đăng nhập thành viên

Liên kết thư viện

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá thế nào về website thư viện tỉnh Sơn La?

Rất tuyệt vời

Dễ thao tác sử dụng

Giao diện thân thiện với người sử dụng

Thuận tiện trao đổi và tra cứu tài liệu

Tất cả các ý kiến trên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 53


Hôm nayHôm nay : 20

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 59291

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8083835

Trang nhất » Tin Tức - Sự Kiện » Bạn có biết?

 
Phòng chống dịch virut nCoV
 

KỶ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM (20/10/1930 - 20/10/2013)

Thứ sáu - 04/10/2013 08:28
20/10/1930: Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
 
             Từ nghị quyết đầu tiên về công tác vận động phụ nữ (tháng 10/1939) đến các nghị quyết của Đảng nói về công tác phụ nữ, các bài viết của chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta đều gắn liền với sự nghiệp giải phóng phụ nữ với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng loài người. Phụ nữ được coi là một tổ chức quần chúng của Đảng. Qua các thời kỳ, tổ chức phụ nữ đã có những tên gọi khác nhau phù hợp với nhiệm vụ cách mạng:
              * Hội Phụ nữ phản đế (20/10/1930)
              * Đoàn Phụ nữ cứu quốc (16/6/1941)
              * Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1946)
            Với Đoàn Phụ nữ cứu quốc làm nòng cốt, tháng 4/1950 Đoàn Phụ nữ cứu quốc đã họp nhất vào Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Hội phụ nữ giải phóng (thành lập ngày 8/3/1961) ở miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, cũng hợp nhất vào Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tháng 6/1976. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được Đảng tổ chức và lãnh đạo để làm cách mạng và chăm lo quyền lợi cho phụ nữ Việt Nam, thực hiện nam nữ bình đẳng.
             Qua giai đoạn cách mạng, phụ nữ Việt Nam luôn luôn xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.” Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Nhà nước ta tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm lần thứ 55 ngày thành lập Hội, Đảng và Nhà nước ta đã trao tặng Huân chương Sao Vàng cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
                                                                                                                                                                                                                                                          (www.lichsuvietnam.vn)

 
 
Lịch sử phát triển của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
 
           1930: Phụ nữ Liên hiệp hội Đông Dương.
           1930 - 1934: Hội Phụ nữ Giải phóng.
           1936 - 1938: Hội Phụ nữ Dân chủ.
           1939 - 1941: Hội Phụ nữ Phản đế.
           1941 - 1945: Đoàn Phụ nữ Cứu quốc.
            Ngày 20 tháng 10 năm 1946, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ra mắt quốc dân tại
Hà Nội. Bà Lê Thị Xuyến được bầu làm Hội trưởng lâm thời.
            Năm 1948, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ thế giới.
           Ngày 18 - 29/4/1950: Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ Nhất. Đoàn Phụ nữ Cứu quốc hợp nhất với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà
Lê Thị Xuyến được bầu là Chủ tịch Hội.
           Ngày 8/3/1961,
Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập, là một tổ chức phân nhánh độc lập của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Định được bầu làm Chủ tịch.
          Năm 1976, Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hợp nhất lại thành một tổ chức thống nhất là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
                                                                                                                                                                                                                                                                       (vi.wikipedia.org)
 
HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM - CHẶNG ĐƯỜNG
TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÙNG ĐẤT NƯỚC
 
          Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được thành lập từ ngày 20 tháng 10 năm 1930. Lịch sử của phong trào phụ nữ Việt Nam, của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước. Kể từ khi các tổ chức phụ nữ tiền thân ra đời, người phụ nữ Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Hội đã gắn bó tha thiết với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, với hạnh phúc và sự bình yên của quê hương, với mái nhà thân yêu của mình.
            Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, một tổ chức thống nhất trong cả nước cùng với các đoàn thể bạn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, đã phát huy chức năng cao cả của mình, quy tụ giới phụ nữ Việt Nam, vì sự bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ, vì hạnh phúc của phụ nữ, trẻ em và các gia đình.
            Xuất phát từ đường lối vận động phụ nữ qua các kỳ Đại hội IV (1977), Đại hội V (1982), Đại hội VI (1987), Đại hội VII (1992), cụ thể hóa bằng các Chương trình hành động, các cuộc vận động, các phong trào do Hội tổ chức, phụ nữ Việt Nam đã góp sức mình vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến  tranh, đổi mới đất nước, đem lại quyền lợi thiết thực cho giới, tạo nên những kỳ tích mang tính thời đại, từ đó khẳng định và nâng cao vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam trong nước và trên trường quốc tế.
             Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và phụ nữ Việt Nam rất xứng đáng với nhiều danh hiệu cao quý mà Bác Hồ, Đảng và Nhà nước đã khen tặng "Phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang, chống Mỹ cứu nước", "Phụ nữ Việt Nam trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng".
            Sau chặng đường dài 83 năm cùng với sự đi lên của đất nước, của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã trưởng thành và phát triển. Hội đã trở thành một tổ chức chính trị - xã hội vững vàng với hệ thống 4 cấp từ Trung ương đến cơ sở, với lực lượng hùng hậu trên 11 triệu hội viên và có đội ngũ cán bộ hội nhiệt tình, năng động đã lãnh đạo phong trào phụ nữ từng bước phát triển và lớn mạnh. Đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, 5 chương trình trọng tâm cùng 2 phong trào lớn được triển khai thực hiện và mang lại lợi ích thiết thực cho hàng triệu phụ nữ, đồng thời vận động chị em tham gia hoạt động có hiệu quả các chương trình Quốc gia như chương trình xóa đói giảm nghèo; Dân số, KHHGĐ; Vệ sinh môi trường; Phòng chống các tệ nạn xã hội, phòng chống HIV/AIDS... Những đóng góp của phong trào phụ nữ và hoạt động của các cấp hội phụ nữ đã góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đưa Việt Nam sớm hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt uy tín của Hội phụ nữ ngày càng được khẳng định và nâng cao đối với các cấp, các ngành các tổ chức trong và ngoài nước. Đến nay, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã có quan hệ với 303 tổ chức quốc gia, khu vực và quốc tế ở 60 nước trên thế giới.
              Nhân dịp kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2013), chúng ta cùng ôn lại tên tuổi một số phụ nữ tiêu biểu gắn với những sự kiện trên các lĩnh vực:

          1. Nữ vương đầu tiên trong lịch sử
          Danh hiệu này dành cho 2 chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị. Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi Thái Thú Tô Định, lật nhào ách đô hộ của nhà Đông Hán và xưng vương, nắm quyền được 3 năm.

          2. Nữ hoàng duy nhất và trẻ nhất trong lịch sử
          Lý Chiêu Hoàng (còn gọi là Phật Kim hay Chiêu Thánh) trở thành nữ hoàng duy nhất và trẻ nhất trong lịch sử Việt Nam. Tháng 11 năm 1224, bà được vua cha Lý Huệ Tông truyền ngôi, lúc này bà mới lên 6 tuổi. Bà lên cầm quyền với niên hiệu Thiên Chương hữu đạo, đến tháng 1 năm 1226 thì nhường lại ngôi cho chồng là Trần Cảnh, lập ra nhà Trần.

          3. Nữ chiến sĩ cộng sản Việt Nam đầu tiên



          Nguyễn Thị Minh Khai là nữ chiến sĩ tiền bối của phong trào cộng sản Việt Nam. Chị sinh năm 1910 tại Vinh (Nghệ An), năm 1927 gia nhập Tân Việt cách mạng Đảng. Năm 1929 thoát ly gia đình đi hoạt động cách mạng ở Trung Quốc. Năm 1935 vào học trường Đại học Phương Đông tại Liên Xô cũ, cùng với Lê Hồng Phong là đại biểu chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương tham dự Đại hội VII Quốc tế cộng sản. Năm 1937 về nước hoạt động, bị giặc Pháp bắt năm 1940 và bị kết án tử hình tháng 5/1941.
 
          4. Nữ anh hùng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam



          Nguyễn Thị Chiên sinh năm 1930. Trong kháng chiến chống Pháp, bà đã xây dựng và chỉ huy đội nữ du kích Tán Thuật (Thái Bình). Hoạt động hiệu quả, táo bạo dũng cảm, nổi tiếng với chiến tích “tay không bắt giặc”, bà được tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương chiến công và năm 1952 được phong là nữ Anh hùng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam.
 
          5. Nữ sĩ quan tình báo giỏi nhất



          Danh hiệu trên được dành cho đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang Đinh Thị Vân, người tổ chức và điều hành mạng lưới tình báo tại Sài Gòn trong kháng chiến chống Mỹ. Năm 1954 bà được Bộ quốc phòng đặc phái vào miền Nam hoạt động. Thông minh, nhanh nhẹn, kiên trung, xây dựng được mạng lưới tình báo vững chắc, bà đã cung cấp kịp thời cho TW Đảng nhiều tin tức về các cuộc càn quét của Mỹ - ngụy vào đầu não kháng chiến của ta ở miền Đông Nam bộ. Hệ thống tình báo của bà phục vụ đắc lực cho các kế hoạch tấn công của quân đội ta từ Tết Mậu Thân 1968 đến khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng năm 1975.
 
          6. Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang trẻ nhất



          Chị Võ Thị Sáu (1933 - 1952) xứng đáng với danh hiệu này. Ngay từ năm 15 tuổi, chị đã hăng hái tham gia cách mạng, lập nhiều chiến công vang dội. Tháng 5/1950, bị giặc Pháp bắt, tra tấn dã man nhưng chị vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Năm 1952, giặc đày chị ra Côn Đảo và hành quyết. Năm 1993, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trân trọng truy tặng chị Huân chương chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

          7. Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đầu tiên:
          Bà Lê Thị Xuyến, sinh năm 1909 tại xã Đại Hòa, Đại Lộc, Quảng Nam là Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam từ 1946 - 1956.

          8. Nữ tướng duy nhất của Việt Nam ở thế kỷ 20:



          Bà Nguyễn Thị Định, sinh năm 1920 tại xã Lương Hòa, Rồng Trôm, Bến Tre. Năm 1974 là Thiếu tướng, Phó tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, bà là nữ Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Phó chủ tịch nước) đầu tiên của Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

          9. Người phụ nữ làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam lâu nhất:



          Bà Nguyễn Thị Thập, sinh năm 1908 tại Long Hưng, Châu Thành, Bến Tre. Có 18 năm là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1956 - 1974). Bà cũng là nữ đại biểu Quốc hội nhiều khóa nhất (khóa 1- khóa 6) 36 năm làm đại biểu Quốc hội, nữ Phó chủ tịch Quốc hội đầu tiên của Việt Nam.
 
          10. Người phụ nữ có nụ cười nổi tiếng nhất:



          Chị Võ Thị Thắng, sinh năm 1945 tại Tiền Bửu, Bến Lức, Long An. Năm 1968 bị giặc bắt, tuyên án 20 năm tù khổ sai. Trước bản án, chị cười và nói "Tôi sợ chính quyền các ông không đủ thời gian tồn tại để thi hành bản án của tôi". Thực tế đã chứng minh lời nói của chị. Năm 1973 hiệp định hòa bình về Việt Nam được ký kết tại Pa-ri, chị được trao trả. Trước đây, từng là Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam.

          11. Người nữ Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam:



          Bà Nguyễn Thị Bình (Nguyễn Châu Sa), sinh năm 1927 tại xã Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, người đại diện cho Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký hiệp định hòa bình về Việt Nam tại Pa-ri năm 1973.
          12. Người mẹ có nhiều con hy sinh nhất:
          Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, sinh năm 1904 tại xã Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam. Mẹ có 10 con (9 con trai, 1 con rể) và 2 cháu nội hy sinh trong chiến tranh.
                                                                                                                                         
                                                                                                                                                                                                                                                                               (www.dayhoctructuyen.org)

 
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam qua các kỳ Đại hội
 
           Hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam đã tổ chức thành công 10 kỳ Đại hội.
            Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ I (nhiệm kỳ 1950 - 1956)
           Diễn ra từ ngày 14 - 19/4/1950 tại Đại Từ (Thái Nguyên), Đại hội có 168 đại biểu chính thức, đại diện cho 5 triệu hội viên và 10 triệu phụ nữ Việt Nam. Đại hội đã thông qua được những vấn đề lớn của tổ chức Hội như: Các Quyết nghị về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Hội Phụ nữ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ và bảo vệ hòa bình dân chủ; Chương trình, Điều lệ của Hội LHPN Việt Nam, Tuyên ngôn, Hiệu triệu gửi toàn thể phụ nữ Việt Nam.
         Đại hội đã đề ra 10 nhiệm vụ, 2 Chương trình lớn; bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Hội gồm 32 Ủy viên, Ban Thường trực Trung ương Hội gồm 9 ủy viên. Bà Lê Thị Xuyến được bầu làm Hội trưởng. Đại hội lần thứ nhất có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng, hợp nhất Đoàn phụ nữ Cứu quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thành một tổ chức duy nhất của phụ nữ, lấy tên là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Hội LHPN Việt Nam là thành viên của Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế.
             Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ II (nhiệm kỳ 1956 - 1961)
            Diễn ra từ ngày 26 - 31/5/1956 tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội có 425 đại biểu chính thức đại diện cho mọi tầng lớp phụ nữ ở các khu, tỉnh, thành của miền Bắc. Đại hội thông qua Điều lệ mới của Hội gồm 10 điều, trong đó điều 1 và điều 2 đã nêu tôn chỉ mục đích của Hội; đề ra 5 Chương trình hoạt động là: Đoàn kết phụ nữ cả nước để cùng toàn dân phấn đấu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh; Thực hiện nam nữ bình đẳng, giải phóng hoàn toàn phụ nữ; Nâng cao trình độ chính trị, văn hóa cho phụ nữ; Mở rộng các hoạt động xã hội để nâng cao đời sống của phụ nữ và nhi đồng; Đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Hội gồm 50 ủy viên, Ban Thường trực Trung ương Hội gồm 13 ủy viên. Bà Nguyễn Thị Thập - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Hội trưởng.
                Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ III (nhiệm kỳ 1961 - 1974) và Đại hội đại biểu lần thứ nhất Hội LHPN giải phóng miền Nam Việt Nam
              Sau năm 1954, theo ký kết và thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, nước Việt Nam tạm thời bị chia thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược cách mạng và thúc đẩy hoạt động của phong trào phụ nữ tại miền Nam, ngày 8/3/1961, Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Trong 15 năm (1961 - 1975), cùng thực hiện nhiệm vụ vận động phụ nữ nhưng Hội LHPN Việt Nam có tổ chức ở cả hai miền. Ở miền Bắc, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ III được diễn ra từ ngày 8  11/3/1961 tại Hà Nội với 450 đại biểu chính thức, đại diện cho gần 4,5 triệu hội viên trong cả nước. Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ lớn, phát động phong trào thi đua 5 tốt; bầu Ban Chấp hành Trung ương Hội gồm 76 ủy viên, Ban Thường trực Trung ương Hội gồm 16 ủy viên. Bà Nguyễn Thị Thập - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục được bầu làm Hội trưởng. Trong lịch sử của Hội, nhiệm kỳ thứ 3 là nhiệm kỳ dài nhất (1961 - 1974), gắn liền với lịch sử chống Mỹ, cứu nước của cả dân tộc. Đại hội đại biểu lần thứ I Hội LHPN giải phóng miền Nam Việt Nam được tổ chức vào ngày 8/3/1965 tại căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh), gần 500 đại biểu thay mặt cho hơn 2 triệu hội viên các địa phương đã về dự Đại hội. Đại hội đã nhấn mạnh các nhiệm vụ: Kiên quyết đấu tranh chống mọi hoạt động áp bức, bóc lột, khủng bố giết chóc, chà đạp nhân phẩm đạo đức của đế quốc Mỹ và tay sai, triệt để bênh vực mọi quyền lợi thiết thân cho mọi tầng lớp phụ nữ; cùng với toàn dân kiên quyết đấu tranh đánh đổ đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ mọi chế độ bù nhìn phản dân hại nước, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền Nam, giành độc lập dân chủ và hòa bình, tiến tới thống nhất Tổ quốc, thực hiện nam nữ bình đẳng, từng bước giải phóng phụ nữ; phát động phong trào thi đua “Năm tốt”. Bà Nguyễn Thị Định - Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam được bầu làm Hội trưởng.
               Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV (nhiệm kỳ 1974 - 1982)
              Diễn ra từ ngày 4 - 7/3/1974 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 596 đại biểu chính thức đại diện cho trên 5 triệu hội viên trên cả nước. Nhiệm kỳ này đặt ra nhiệm vụ xây dựng người phụ nữ xã hội chủ nghĩa làm tốt nghĩa vụ với Tổ quốc, xã hội và gia đình, vận động phụ nữ tham gia phong trào thi đua lao động, sản xuất, cần kiệm, cùng các cơ quan, đoàn thể chăm lo quyền lợi, đời sống, sức khỏe phụ nữ, trẻ em, hướng dẫn tổ chức tốt gia đình, làm tròn nghĩa vụ với cách mạng miền Nam, tăng cường đoàn kết hữu nghị với phụ nữ trên thế giới, củng cố tổ chức Hội, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, cải tiến chỉ đạo, chuyển mạnh phương thức hoạt động của Hội. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Hội gồm 114 ủy viên, Ban Thường vụ Trung ương Hội gồm 30 ủy viên. Bà Hà Thị Quế - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch Hội.
            Từ ngày 10 - 12/6/1976, Hội nghị thống nhất Hội LHPN Việt Nam và Hội LHPN giải phóng miền Nam Việt Nam đã diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh.
             Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ V (nhiệm kỳ 1982 - 1987)
            Diễn ra từ ngày 19 - 20/5/1982 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội có 800 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 9 triệu hội viên và 25 triệu phụ nữ trong cả nước. Đại hội đề ra 5 nhiệm vụ trọng tâm, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Hội gồm 109 ủy viên, đoàn chủ tịch có 17 ủy viên. Bà Nguyễn Thị Định - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu là Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam.
             Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ VI (nhiệm kỳ 1987 - 1992)
             Đại hội diễn ra từ ngày 19 - 20/5/1987 tại Thủ đô Hà Nội với 700 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 10 triệu hội viên và 28 triệu phụ nữ trong cả nước. Đại hội đánh giá các tầng lớp phụ nữ đã thể hiện lòng yêu nước, tinh thần lao động trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời nhấn mạnh 8 nội dung phụ nữ cần thực hiện trong công cuộc đổi mới.
              Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI gồm 98 ủy viên. Ban Chấp hành đã bầu Đoàn Chủ tịch gồm 15 ủy viên. Bà Nguyễn Thị Định - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục được bầu là Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam. Trong nhiệm kỳ này, vào ngày 08/3/1989, Ban Chấp hành Trung ương Hội đã phát động hai cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” và “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học”.
                Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ VII (nhiệm kỳ 1992 - 1997)
               Được tổ chức từ ngày 18 - 20/5/1992 tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội đã thu hút 760 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 10 triệu hội viên và 33 triệu phụ nữ cả nước tham dự. Đại hội khẳng định các cấp Hội đã có những đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, do đó phong trào phụ nữ đã góp phần quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước. Đại hội nêu rõ: Tiếp tục thực hiện hai cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học”; đề ra các mục tiêu và phương hướng nhiệm vụ của phong trào phụ nữ những năm 1992 - 1997 và 5 chương trình công tác trọng tâm. Đại hội quyết định tiếp tục phát động thực hiện hai phong trào thi đua “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học”, tiếp tục thực hiện phong trào "Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo".
            Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VII gồm 96 ủy viên. Ban Chấp hành tôn vinh bà Nguyễn Thị Định - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Chủ tịch danh dự Hội LHPN Việt Nam; bầu Đoàn Chủ tịch gồm 11 ủy viên. Bà Trương Mỹ Hoa, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu là Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam.
               Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII (nhiệm kỳ 1997 - 2002)
              Diễn ra từ ngày 19 - 20/5/1997 tại Thủ đô Hà Nội. 900 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 10 triệu hội viên và gần 24 triệu phụ nữ cả nước đã về dự Đại hội. Là Đại hội “Đoàn kết, Đổi mới vì Bình đẳng, phát triển và hòa bình, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Đại hội nhấn mạnh tiếp tục thực hiện 5 chương trình trọng tâm, phát động phụ nữ cả nước thực hiện hai phong trào thi đua yêu nước: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước”. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 126 ủy viên. Ban Chấp hành quyết định số lượng Đoàn Chủ tịch gồm 21 ủy viên. Bà Trương Mỹ Hoa, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu lại làm Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam. Tháng 2/1998, bà Trương Mỹ Hoa đảm nhiệm vị trí Phó Chủ tịch Quốc hội; bà Hà Thị Khiết, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu giữ chức Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam.
              Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ IX (nhiệm kỳ 2002 - 2007)
              Đại hội diễn ra tại Hà Nội từ ngày 22 - 23/2/2002 với 900 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 11 triệu hội viên. Đại hội khẳng định những thành tích đạt được của phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam nhiệm kỳ 1997 – 2001; đề ra 6 chương trình trọng tâm, phát động các tầng lớp phụ nữ cả nước thực hiện phong trào thi đua: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam khóa IX gồm 132 ủy viên, Đoàn Chủ tịch gồm 23 ủy viên. Bà Hà Thị Khiết - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu lại làm Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam.
               Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ X (nhiệm kỳ 2007 - 2012)
              Đại hội diễn ra từ ngày 1 - 4/10/2007 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có gần 1.193 đại biểu chính thức, đại diện cho hơn 14 triệu hội viên trong cả nước. Đại hội đã đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội IX; đề ra mục tiêu, xác định 8 chỉ tiêu cơ bản và 6 nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội; Thông qua Điều lệ Hội LHPN Việt Nam sửa đổi. Đại hội quyết định tiếp tục phát động phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”. Các cấp Hội đã tích cực vận động phụ nữ và các tầng lớp phụ nữ sôi nổi hưởng ứng thực hiện phong trào thi đua yêu nước “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc’’ gắn với thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh’’; vận động các tổ chức, cá nhân ủng hộ xây dựng “Mái ấm tình thương cho phụ nữ nghèo”. Ban Chấp hành khoá X nhiệm kỳ 2007 - 2012 gồm 154 ủy viên, 25 ủy viên Đoàn chủ tịch. Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam. Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI diễn ra tại Hà Nội trong các ngày từ 12 - 14/3. Với trên 1.100 đại biểu đại diện cho hàng chục triệu cán bộ, hội viên phụ nữ trên toàn quốc về dự Đại hội của “Đoàn kết - Sáng tạo - Bình đẳng - Phát triển”, sự kiện quan trọng của Hội LHPN Việt Nam và phong trào phụ nữ cả nước này sẽ quyết định những vấn đề quan trọng của phong trào phụ nữ và hoạt động Hội trong 5 năm tới (2012 - 2017) nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ trong cả nước.
                                                                                                                                                                                                                                                                               Ngọc Lan - gdtd.vn
 

 
TƯ TƯỞNG VÀ TÌNH CẢM CỦA BÁC HỒ VỚI PHỤ NỮ
 
             Sinh thời Bác Hồ luôn quan tâm và đánh giá cao vị trí vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Bác từng nhấn mạnh: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”... “Nhân dân ta anh hùng là nhờ có các bà mẹ Việt Nam anh hùng”... “Dân tộc ta và Đảng ta đời đời biết ơn các bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và cống hiến những người ưu tú, đã và đang chiến đấu anh dũng tuyệt vời bảo vệ non sông gấm vóc do tổ tiên ta để lại”.
           Cùng với hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc cũng như trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác luôn đặt ra yêu cầu bức thiết phải giải phóng “nửa thế giới” khỏi “xiềng xích nô lệ”, phải cởi trói cho phụ nữ. Dẫn lời C.Mác: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tấn bộ ra thế nào? và V.I.Lênin “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”, Bác khẳng định:“Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi”. Và, “những lời ấy không phải câu nói lông bông. Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia”.
           Cách mạng Tháng Tám thành công, trong Tuyên ngôn độc lập đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945, Bác trịnh trọng tuyên bố với thế giới và quốc dân đồng bào: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Những quyền ấy được Bác trích trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Song trong xã hội Mỹ chỉ những người đàn ông da trắng, theo đạo Tin Lành có tài sản mới được bầu cử. Còn các giai tầng khác mãi đến đầu thế kỷ 19 và phụ nữ Mỹ (sau 144 năm giành độc lập) - năm 1920 mới giành được quyền đi bầu cử. Đối với người Mỹ da đen thì tới phong trào đòi quyền dân chủ diễn những năm 1960 mới giành được quyền bầu cử đầy đủ và đến 1971 các công dân trẻ tuổi mới được trao quyền bầu cử khi Hoa Kỳ hạ tuổi bầu cử từ 21 xuống 18 tuổi... Song, với Tuyên ngôn độc lập của Bác Hồ thì “tất cả mọi người” Việt Nam đều là những người có quyền đi bầu cử Quốc hội vào ngày 6/1/1946: “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường”. Và Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946“…tuyên bố với thế giới: Phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”.
              Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác không chỉ quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ mà còn nhìn thấy sức mạnh to lớn của họ đối với cách mạng và Bác cũng là người tiếp thêm sức mạnh cho chị em vùng dậy đấu tranh, giành độc lập dân tộc. Bác nêu ra nhiều tấm gương chiến đấu hy sinh của phụ nữ vì Tổ quốc như Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng từ buổi bình minh của lịch sử và kêu gọi chị em: Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết cách mệnh. Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại! Từ ngày dân Việt Nam tranh được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến sĩ, tăng gia sản xuất. Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ vàng, Đời sống mới…, việc gì phụ nữ cũng hăng hái.
           Trong các cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhiều chị em đã tham gia kháng chiến và làm tròn trọng trách cách mạng mà Đảng và Nhà nước giao phó. Chị em là cán bộ lãnh đạo, là anh hùng, chiến sĩ thi đua trong lao động và chiến đấu, là dũng sĩ từ tiền tuyến lớn miền Nam có dịp ra thăm miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã được Bác Hồ ân cần đón tiếp, tặng hoa và quà, được ăn cơm hoặc xem văn nghệ cùng Người. Bác Hồ luôn luôn coi lực lượng phụ nữ là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng, một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm mọi thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, ghi nhận những thành tích đóng góp của phụ nữ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, Người tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” và khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Đây chính là sự khẳng định của Bác về vị trí, vai trò không thể thiếu của phụ nữ Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
              Trong thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ ngày 8/3/1952, Bác khẳng định: Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng… Nhiều bà cụ ngoài bảy tám mươi tuổi, chẳng những đã xung phong đi dân công, mà còn thách thi đua với các cụ ông và con cháu… Những phụ nữ chân yếu tay mềm “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” đã góp phần không nhỏ đem đến thắng lợi “Lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
            Bác không chỉ nêu lên vai trò, vị trí của người phụ nữ đối với xã hội mà còn là người đi tiên phong trong phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng nam nữ. Người chỉ rõ: Công tác phụ nữ trong xây dựng CNXH, một trong những nội dung quan trọng là phải đấu tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ. “Đảng và Chính phủ ta luôn luôn chú ý nâng cao địa vị của phụ nữ. Hiến pháp định rõ “nam nữ bình đẳng” và luật lấy vợ lấy chồng v.v... đều nhằm mục đích ấy”. Người nhắc nhở các cấp, các ngành… phải kính trọng phụ nữ, quan tâm đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của nữ giới.
             Những lời dạy của Bác thể hiện sự quan tâm sâu sắc, đồng thời cũng tỏ rõ tình cảm của mình giành cho “nửa thế giới”. Người luôn đấu tranh để cho phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới. Bình đẳng không chỉ về chính trị mà còn từ thực tiễn sinh hoạt của đời sống xã hội và trong gia đình. Bác đã chỉ ra “Chồng đánh chửi vợ, cha mẹ đánh chửi con, là điều rất dã man”. Bác luôn trân trọng, thương yêu và coi “Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi”. Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ. Trong xây dựng CNXH, phụ nữ phải được giải phóng khỏi những tàn dư của hủ tục, định kiến hẹp hòi của tư tưởng phong kiến; vươn lên đóng góp sức mình xây dựng CNXH.
            Về thăm và nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Thái Bình năm 1966 - Quê hương của chị Hai Năm tấn, sau khi phân tích tình hình, chỉ rõ nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu, Bác nhấn mạnh: “Một điều nữa Bác cần nói là: Phải kính trọng phụ nữ. Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy bình quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lênin dạy chúng ta: Phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ. Nhưng Bác nghe nói vẫn có người đánh chửi vợ! Đó là một điều đáng xấu hổ. Như thế thì còn gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là cực kỳ dã man. Chi bộ đảng phải giáo dục đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng giữa vợ chồng. Đoàn thể phụ nữ và thanh niên phải bảo ban nhau cách cư xử hoà thuận trong gia đình. Bác mong rằng: từ nay về sau sẽ không còn thói xấu đánh chửi vợ nữa”.
              Bác không chỉ là người đầu tiên đề cập đến vấn đề giải phóng phụ nữ, khẳng định vai trò, vị trí của họ đối với gia đình và xã hội, đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho họ mà còn là luôn động viên, khuyên bảo, nhắc nhở chị em phải tự cố gắng học tập, sáng tạo vươn lên để khẳng định mình chứ không phải chờ Đảng, Chính phủ đề ra các chủ trương, chính sách. Người kêu gọi: Chị em phụ nữ nông thôn thi đua góp sức hoàn thành tốt cải cách ruộng đất và lập những tổ đổi công tốt. Chị em công nhân và công chức thi đua làm tròn nhiệm vụ của mình. Chị em trí thức thi đua góp phần vào việc phát triển văn hoá. Nữ thanh niên tuỳ theo cương vị của mình, thi đua học và hành, xung phong trong mọi công việc. Đồng thời, Bác cũng chỉ rõ một thực trạng: cấp trên có cất nhắc cán bộ phụ nữ nhưng chưa mạnh dạn, tức là còn phần nào chưa coi trọng trí tuệ, tài năng của phụ nữ. Vậy phụ nữ phải làm sao cho người ta thấy phụ nữ giỏi, lúc đó cán bộ không cất nhắc, anh chị em công nhân sẽ cử mình lên.
             Trong buổi nói chuyện tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình, Người phân tích: Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Quốc tế Phụ nữ, Người khen ngợi phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù. Trong kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc cứu nước. Nhưng phụ nữ ta cần phải cố gắng nhiều để theo kịp chị em các nước bạn, góp phần nhiều hơn nữa trong việc xây dựng CNXH. Người phê bình: Phụ nữ ta còn một số nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình; mặt khác, phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái. Muốn giải quyết khó khăn không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn của phụ nữ trong công tác chính quyền. Người căn dặn: Tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng CNXH. Muốn làm trọn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật. Người luôn khuyến khích chị em tự mình cố gắng vươn lên khẳng định mình. Điều đó thể hiện sự quan tâm, thương yêu và đầy tinh thần trách nhiệm của một vị lãnh tụ luôn theo sát, cổ vũ các phong trào của phụ nữ.
               Cả cuộc đời 79 mùa xuân, Bác đã giành trọn vẹn cho dân cho nước. Trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng để lại cho dân cho nước, Bác căn dặn toàn Đảng, toàn dân “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.
               Khắc sâu lời dạy và thực hiện tâm nguyện của Bác “một nửa thế giới” cần được giải phóng, bình đẳng về mọi mặt, mục tiêu thiên niên kỷ quốc gia đã ưu tiên phát triển bền vững nguồn lực phụ nữ như: Tăng cường giáo dục, đào tạo, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về mọi mặt, trình độ nghề nghiệp và năng lực quản lý kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường cho phụ nữ; hỗ trợ phụ nữ làm kinh tế, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo; đẩy mạnh các chương trình chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em, cải thiện môi trường sinh hoạt tại từng địa phương; tạo điều kiện để chị em tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bình đẳng giới… Cùng với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ưu tiên phát triển nguồn lục phụ nữ, phụ nữ Việt Nam hôm nay luôn cố gắng học tập, công tác, từng bước vươn lên và ngày càng  khẳng định vị thế của mình trong xã hội và trên trường quốc tế, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 
                                                                                                                                                                                                                                                                                           Phạm Thị Nhung
                                                                                                                                                                                                                                                        www.xaydungdang.org.vn
 
 LÊ CHÂN - NỮ TƯỚNG THỜI TRƯNG VƯƠNG 
 
              Bà Lê Chân quê gốc ở một làng nhỏ là An Biên, huyện Đông Triều, Quảng Ninh. Cha là Lê Đạo làm nghề thày thuốc, sống rất nhân từ, quảng đại sẵn lòng che chở cứu giúp người nghèo, được dân chúng xa gần mến phục. Mẹ là Trần Thị Châu nổi tiếng là người hiền thục, đảm đang và nhân đức. Cả hai ông bà tuổi đã cao mà chưa sinh được đứa con nào để vui cảnh già và có nơi nương tựa. Nghe tiếng Yên Tử là nơi có ngôi chùa linh ứng ông bà đã đi lễ bái, thành tâm cầu phúc nơi cửa Phật. Thế rồi bà mẹ có thai và sinh được một cô con gái vào ngày mồng 8 tháng Hai, ông bà đặt tên con là Lê Chân.
               Lê Chân càng lớn càng xinh đẹp, tính tình nết na, chăm chỉ. Đến năm 18 tuổi thì sắc đẹp và đức hạnh của nàng đã nổi tiếng khắp vùng.
              Vào mùa xuân năm Kiến Vũ thứ 16 tức tháng ba năm 40 đầu công nguyên, quân Đông Hán xâm lược nước ta. Sắc đẹp mê hồn của nàng Lê Chân lại là một nguyên cớ gây cho gia đình tai biến không ngờ. Một lần Thái thú Tô Định đi kinh lý qua miền Đông Triều, có kẻ nịnh thần tâu với hắn rằng Lê Chân là một tiên nữ giáng thế. Tô Định dùng quyền thế của mình để ép nàng làm vợ, nhưng Lê Chân nhất mực từ chối. Chuyện cầu hôn không thành, Tô Định đã hãm hại cả bố mẹ Lê Chân. Căm giận Tô Định - quân cướp nước tham tàn bỉ ổi, Lê Chân quyết chí trả thù nhà, đền nợ nước. Nàng đã đi tìm thầy luyện võ nghệ, binh thư cho mình. Khi võ nghệ đã tinh thông Lê Chân đã di cư đến vùng đất An Biên, An Dương, Hải Phòng để chiêu tập binh mã. Vùng đất An Biên lúc bấy giờ chỉ là một bãi đất phù sa mới được bồi đắp, lơ thơ cỏ dại và mấy túp lều tranh của dân chài lưới. Đến vùng An Biên, Lê Chân bắt tay vào khai khẩn đất hoang, lập ấp mở làng, tích trữ lương thảo, sắm sửa vũ khí và thu nạp quân sĩ, binh mã. Khi đã có lương thảo, quân sĩ trong tay Lê Chân lên xứ Đoài gặp Hai Bà: Trưng trắc, Trưng Nhị để xin được tham gia đánh giặc. Gặp được người đồng tâm mưu nghiệp lớn, Lê Chân cùng Hai Bà Trưng ngày đêm bàn tính kế sách khởi nghĩa diệt quân Đông Hán.
             Được sự hưởng ứng của các Lạc tướng và lạc dân chỉ trong một thời gian ngắn, ngọn cờ chính nghĩa của Hai Bà đã tập hợp được 65 huyện thành trong cả nước. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã lan rộng từ Mê Linh ra khắp các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố. Chẳng bao lâu quân khởi nghĩa đã hạ được 65 thành. Bọn tàn quân Tô Định phải chạy trốn về quận Nam Hải. Hai Bà Trưng xưng Vương và đóng đô ở Mê Linh. Bà Lê Chân được ban thưởng rất hậu và được phong làm tướng trở về trấn ải vùng Đông Triều, Quảng Ninh và An Biên, Hải Phòng.
             Tại An Biên, Hải phòng bà Lê Chân tiếp tục cho mở rộng trang trại vận động nhân dân khai khẩn đất hoang dọc theo sông Tam Bạc biến thành đồng lúa, nương dâu và đặt cho vùng này là An Biên trang. Tiếp nối công đức của người cha, bà Lê Chân mở lòng từ thiện cứu giúp người nghèo, khuyến khích nghề nông phát triển. Dân cư trong vùng ngày thêm đông đúc, trù phú.
              Ghi nhớ công ơn của nữ tướng Lê Chân, đặc biệt công khai phá và lập ra làng An Biên xưa - nay là Hải Phòng, người dân Hải Phòng đã xây dựng đền Nghè thờ bà Lê Chân trên phố Mê Linh, bà được coi là Thành hoàng của Hải Phòng. Đền Nghè được xếp hạng là di tích quốc gia và được nhân gian coi là chốn linh thiêng. Nhân dân Hải Phòng và các tỉnh lân cận như: Quảng Ninh, Thái Bình, Hải Dương thường đến lễ viếng và tham quan, nhất là những ngày mồng 1 và 15 hàng tháng, người dân đến lễ rất đông. Hàng năm vào dịp 25 tháng Chạp, thành phố Hải Phòng thường tổ chức lễ hội dâng hương tưởng niệm ngày mất của bà - vị nữ tường anh hùng - người có công xây dựng và bảo vệ quê hương.
               Hiện nay, đền Nghè thờ nữ tướng Lê Chân đang được Nhà nước cấp kinh phí để tu sửa, tôn tạo và mở rộng để thực sự xứng với công lao to lớn của bà.
                                                                                  
                                                                                                                                                                                                                                                                      Nguyễn Thị Nhi - Bảo tàng PNVN

                                                                                                                                                                                                                                                                                   www.hoilhpn.org.vn
 

 
Nguyễn Thị Minh Khai - người nữ bí thư thành ủy Sài Gòn đầu tiên 
 
            Cuộc đời phấn đấu không biết mệt mỏi cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ, tấm gương hy sinh anh dũng của chị Nguyễn Thị Minh Khai và các chiến sỹ cách mạng luôn sáng ngời để cho phụ nữ ta học tập.
           Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh ngày 1/11/1910, tại Vinh - Nghệ An. Chị theo học quốc ngữ từ nhỏ. Sau khi học hết lớp nhì chị chuyển sang học lớp nhất trường Cao Xuân Dục. Được học với thầy giáo Trần Phú (người sau nay là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng cộng sản Đông Dương), chứng kiến cảnh lầm than của quê hương và được chính thầy giáo Phú giác ngộ, năm 16 tuổi Vịnh đã dấn thân vào con đường cách mạng. Năm 1927, chị đã tham gia Đảng Tân Việt, từ đây Vịnh lấy bí danh mới là Minh Khai. Trong thời gian này, chị tích cực tham gia các phong trào đấu tranh tại quê hương, vận động phụ nữ tham gia bãi khóa, biểu tình đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu, truy điệu cụ Phan Chu Trinh.
           Đầu năm 1929, được sự đồng ý của tổ chức, chị Minh Khai bí mật thoát ly gia đình đi hoạt động cách mạng. Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, chị được kết nạp vào Đảng và được phân công phụ trách công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ, huấn luyện đảng viên ở khu vực Trường Thi, Bến Thủy và tổ chức Hội Phụ nữ Giải phóng. Chị tổ chức được nhiều lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cho Đảng là lực lượng nòng cốt trong cao trào Xô viết - Nghệ Tĩnh. Cuối năm 1930, chị được tổ chức cử sang Hương Cảng (Trung Quốc), công tác ở Văn phòng Đông phương Bộ của Quốc tế cộng sản. Được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Lý Thụy) trực tiếp giáo dục về lý luận chính trị, kinh nghiệm hoạt động cách mạng, nhờ vậy chị tiến bộ rất nhanh. Sau đó, chị được giao nhiệm vụ liên lạc với các tổ chức cách mạng Việt Nam ở trong nước. Vừa công tác, chị vừa tranh thủ học thành thạo tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc.
            Năm 1931 - 1934, chị bị bọn mật thám Anh ở Hương Cảng bắt giam rồi chuyển giao cho chính quyền Quảng Châu cầm tù. Dù bị tra tấn tàn bạo nhưng chị trước sau vẫn kiên trung với cách mạng. Sau đó, nhờ sự vận động của Quốc tế cộng sản chị được trả tự do. Ra tù, chị được cử đến Thượng Hải, công tác ở Ban lãnh đạo Đảng ở nước ngoài và được đi học tại Đại học Phương Đông. Cuối năm 1934, chị Minh Khai, anh Lê Hồng Phong và Hoàng Văn Non là đại biểu chính thức được cử đi dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 7 tại Mát-xcơ-va. Chị lấy bí danh là Phan Lan. Ngày 16/8/1935, lần đầu tiên trên diễn đàn của một đại hội quốc tế, người phụ nữ Việt Nam 24 tuổi dõng dạc đọc bài tham luận về vai trò của phụ nữ Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh đế quốc và bảo vệ hòa bình. Sau Đại hội, chị tiếp tục học tại Trường Đại học Phương Đông. Những tháng năm này chị đã yêu và kết hôn với anh Lê Hồng Phong - một chiến sỹ cách mạng.
           Đầu năm 1936, Lê Hồng Phong được phái về nước hoạt động, còn Minh Khai ở lại học tiếp một năm nữa. Sau khi tốt nghiệp đại học, chị nhận nhiệm vụ về hoạt động tại Thượng Hải (Trung Quốc) và được tổ chức phân công về công tác tại Sài Gòn (1937). Về nước, chị được bầu vào Xứ ủy Nam Kỳ, phụ trách Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, lúc đó chị 29 tuổi. Nhận nhiệm vụ mới, hoạt động trong điều kiện bí mật hết sức khó khăn nhưng chị cùng các đồng chí vẫn bám sát cơ sở, lãnh đạo phong trào phát triển mạnh mẽ. Trong khi chị đang hoạt động sôi nổi thì nhận được tin anh Lê Hồng Phong bị bắt. Mặc dù rất thương chồng nhưng để đảm bảo bí mật chị không thể vào thăm anh được mà chỉ nhờ người đem quà vào cho anh. Lúc này chị đang mang thai. Mùa xuân 1939, chị sinh cháu gái đầu lòng, đặt tên cháu là Hồng Minh, chỉ kịp ở với con một tháng, chị gửi con lại cho cơ sở cách mạng nuôi rồi lại tiếp tục đi hoạt động.
           Ngày 1/9/1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra. Xứ ủy Nam Kỳ nhận định tình hình và chủ trương khởi nghĩa. Bọn mật thám Pháp phát hiện được, ra sức khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng. Hầu hết các cán bộ chủ chốt của Đảng tại Nam Kỳ đều sa vào tay giặc như: Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Võ Văn Tần, Nguyễn Hữu Tiến… 
           Ngày 30/7/1940, sau khi dự phiên họp Xứ ủy bàn về chủ trương khởi nghĩa, chị Minh Khai bị bọn Pháp bắt. Chúng đưa chị về Khám Lớn Sài Gòn và tra tấn hết sức dã man. Trong tù chị tiếp tục vận động chị em phụ nữ đấu tranh. Sau những trận đòn tra tấn, chị đã dùng máu viết lên tường xà lim những câu thơ nêu cao phẩm chất, khí tiết của người chiến sỹ cộng sản: Dù đánh, dù treo, càng cương quyết; dù kềm, dù kẹp chẳng sai lời; hy sinh phấn đấu vì nhiệm vụ, triệt để thực hành chết mới thôi…
           Khi giặc Pháp biết chị là vợ Lê Hồng Phong, chúng đưa anh về giam chung nhưng cả hai chiến sỹ cách mạng mặc dù đã lâu không gặp nhau nhưng vẫn nén tình cảm riêng tư để đối phó với âm mưu thâm độc của kẻ thù. Đã có lần chúng đưa anh vào cho chị nhận mặt nhưng chị đã trả lời với chúng: Tôi không biết người này.
Tuy bị giam hãm trong nhà tù nhưng Nguyễn Thị Minh Khai với cương vị là Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, là Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ nên chị vẫn tìm mọi cách để liên lạc với bên ngoài, tiếp tục lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Ngày 23/11/1940 cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ.
           Trước lúc hy sinh chị còn kịp làm ba việc: Một là gửi lời vĩnh biệt tới người chồng thương yêu đang bị đày ngoài Côn Đảo; hai là gửi lời cám ơn đến những người đồng chí đang nuôi nấng Hồng Minh; ba là tước vải quần áo nhà tù, đan một chiếc áo gối gửi về tặng mẹ gọi là một chút lòng hiếu thảo đối với mẹ mà không làm tròn bổn phận chăm sóc mẹ lúc mẹ già yếu.
            Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị khủng bố, tòa án thực dân đã kết án tử hình chị. Không khuất phục được người chiến sỹ cộng sản trẻ tuổi, sáng ngày 28/8/1941, chị Nguyễn Thị Minh Khai cùng một số đồng chí bị giặc đem xử bắn ở Hóc Môn. Chị ngã xuống khi mới 31 tuổi. Trước khi ra pháp trường chị đã nhắn nhủ cùng đồng bào, đồng chí:
             Vững chí bền gan ai hỡi ai
             Kiên tâm giữ dạ mới anh tài
            Thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ
             Con đường cách mạng vẫn chông gai.
           Cuộc đời phấn đấu không biết mệt mỏi cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ, tấm gương hy sinh anh dũng của chị Minh Khai và các chiến sỹ cách mạng luôn sáng ngời để cho phụ nữ ta học tập. Tên tuổi và sự nghiệp cách mạng cao quý của chị được khắc ghi cho muôn đời con cháu mai sau với những tên đường phố mang chị, trường học mang tên chị và cả những học bổng mang tên chị để giúp đỡ cho những học sinh nghèo, học giỏi vượt khó. Tên tuổi của Nguyễn Thị Minh Khai sẽ sống mãi cùng dân tộc Việt Nam.
 
                                                                                                                                                                                                                             Dương Thủy - Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
                                                                                                                                                                                                                               
www.hoilhpn.org.vn
 
Chị Ba Định - niềm tự hào của phụ nữ và dân tộc ta 
 
              Vào một đêm đất trời Việt Nam vào thu ở giữa mùa thu thứ bốn mươi bảy ngày của ngày cách mạng và độc lập, chị Nguyễn Thị Định, người con gái yêu dấu của dân tộc, đã vĩnh biệt chúng ta. Sự ra đi của chị ở tuổi ngoài thất thập, ngẫm cũng là lẽ thường. Nhưng sao có gì cứ làm xao xuyến lòng tôi, có gì cứ làm rung động lòng tôi.
             Vậy là giữa một đêm thu này, một chiếc lá lại rụng. Nhưng đó không phải là một chiếc lá vàng mà là một chiếc lá bằng vàng, được sinh ra từ giống nòi và cội rễ Việt Nam ta.
            Chuyện đời của chị Ba Định, ai ai cũng có thể nhìn thấy rõ. Mới mười sáu tuổi đã bước vào đường cách mạng. Mười tám tuổi trở thành người cộng sản. Hai mươi tuổi sa cơ vào vòng tù, bị đày lên Bà Rá, xứ sở của nước độc và sốt rét, nơi thực dân Pháp muốn diệt dần mòn sức khỏe của chị và bao đồng chí khác. Từ cái rủi ro lại hóa ra may, như chị vẫn nói: “Lên Bà Rá, tôi như được đi dự lớp huấn luyện mác-xít chính quy, ở đó có bao anh chị đã dạy tôi, ở đó có những giáo sư đỏ”. Năm hăm ba tuổi, chị từ Bà Rá trở về quê hương Bến Tre, tiếp tục hoạt động với những bài bản được trang bị còn tốt hơn trước. Năm 1945, chị là một nữ đảng viên cộng sản trẻ tuổi nhất tham gia lãnh đạo cướp chính quyền ở tỉnh. Rồi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Một năm sau, người con gái hăm sáu tuổi này đã cùng giáo sư Ca Văn Thỉnh làm một cuộc hành trình bằng ghe bầu vượt biển ra Bắc để báo cáo tình hình và tiếp nhận chỉ thị của Trung ương. Kể lại chuyến đi này, chị nói: “Ra đó, tôi chỉ chăm bẳm xin súng!”. Trải qua bao sóng to, gió lớn, mà chị là một trong những người luân phiên cầm lái, cuối cùng cả đoàn ra tới thủ đô Hà Nội. Chị là người phụ nữ Nam bộ được gặp Bác Hồ sớm nhất. Rồi cũng bằng đường biển, chị trở lại quê hương. Lần này, chị được bầu vào Tỉnh ủy, và suốt chín năm là người lãnh đạo phụ nữ đầy uy tín của tỉnh.
                  Nhưng người phụ nữ có dáng dấp trông như một nữ nông dân này bắt đầu được biết đến và lẫy lừng danh tiếng là năm chị bốn mươi tuổi. Sự nổi tiếng của chị không hề giống những người phụ nữ tài danh cùng thời, ở trong và ngoài nước. Chị không phải là một minh tinh, không phải là một nhà phát minh, sáng chế. Chị là người phụ nữ ở ruộng lúa, vườn dừa, ở nơi xóm làng hiền hòa, làm ăn thuần phác đang bị khủng bố và tàn sát, và chị đứng ra lãnh đạo, tổ chức cuộc quật khởi chống lại bạo lực bằng chính bạo lực. Đó là sự vĩ đại của chị Ba Định. Chị là người vận dụng và minh chứng hay nhất, đẹp nhất cho Nghị quyết 15 của Đảng ta. Dùng mỹ từ vĩ đại đối với chị Ba, tôi không hề có chút do dự. Là vì cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre đầu năm 1960 là câu chuyện vĩ đại về một xứ sở đồng thời là câu chuyện vĩ đại về một người phụ nữ.
                 Chính vì lẽ đó mà mấy năm sau, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đã đề cử chị làm Phó Tư lệnh Lực lượng vũ trang giải phóng. Tôi còn nhớ rõ, tại hội trường của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục năm ấy, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người phụ nữ đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”.
                  Chúng tôi nghe những lời nói ấy với niềm vui sướng và tự hào. Vui sướng và tự hào về chị Ba Định, về phụ nữ Việt Nam, về dân tộc ta. Việc đưa một phụ nữ lên làm Phó Tư lệnh Lực lượng vũ trang giải phóng vào giữa lúc cuộc chiến đang diễn ra ác liệt, vào giữa lúc Mỹ ồ ạt đổ hàng nửa triệu quân vào miền Nam, càng có ý nghĩa hết sức đặc biệt. Đặc biệt vì ở đây là một phụ nữ, và là một phụ nữ tiêu biểu cho ý chí quyết đấu quật khởi. Việc này thể hiện rõ ràng sâu sắc quyết tâm chiến thắng, đồng thời lại toát lên phong độ ung dung tự tại của bên tin chắc là mình thắng. Thế giới nhận được tin bất ngờ và độc đáo này.
              Tôi gặp chị Ba Định nhiều lần ở căn cứ đầu tiên tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua quân giải phóng miền Nam lần thứ nhất, rồi Đại hội Anh hùng lần thứ hai. Người phụ nữ này thật đôn hậu, trầm tĩnh, dễ xúc động, nhưng lại rất kiên nghị. Hồi nhỏ, chị đâu có được học nhiều, nhưng lại có văn hóa cao, ăn nói thuyết trình đâu ra đó. Chính chị là tấm gương, là hình ảnh đẹp đẽ giục giã sinh ra bao nữ anh hùng khác thời chống Mỹ – những anh hùng được phong tặng danh hiệu chính thức, riêng chị thì không. Chị Ba chưa hề được phong tặng danh hiệu đó. Dù vậy, giữa lòng nhân dân ta và nhân loại bị áp bức, chị vẫn luôn là một nữ anh hùng, chẳng những của dân tộc mà còn của thời đại. Là vì tôi nhận thấy, trong vòng năm, bảy thập kỷ trở lại đây của thế giới làm được như chị: Từ chốn ruộng đồng thấm đẫm máu và lệ, từ mảnh đất kéo lê những cỗ máy chém, chị đã dựng nên một kỳ tích mà từ đó đến nay và từ nay về sau, chúng ta có được cái cụm từ gọi là Đồng Khởi, có được bài học gọi là Đồng Khởi.
              Vào những ngày này, khi chị Ba Định đã đi xa, giữa tâm trí tôi vẫn thường hiện lên cảnh tượng rừng dừa của đêm Bến Tre sáng bừng ánh đuốc, bên tai tôi vang rền tiếng trống mõ, tiếng gào thét của hàng ngàn hàng vạn người xông lên diệt ác phá đồn, và ở phía trước là chị Ba Định thân yêu đang giơ tay vẫy gọi, chiếc khăn rằn nơi cổ chị phần phật bay giữa những tàu lá dừa xanh ngời ánh lửa trông tựa những lưỡi gươm.
 
                                                                                                                                                                          A.Đ (Trích Nhớ chị Ba Định - Nxb Khoa học Xã hội - Hà Nội - 2009)
                                                                                                                                                                             www.hoilhpn.org.vn
   
 
Mẹ Thứ - Mẹ của ngàn đời 
 
           Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, bà mẹ có 12 người thân trong gia đình là liệt sỹ, trong đó có 9 con trai, 1 con rể và 2 cháu ngoại, Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu của cả nước có sự hy sinh quá lớn lao cho 2 cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc được Trung ương lấy nguyên mẫu mẹ xây dựng tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã vĩnh biệt chúng ta.
          8h sáng ngày 14/12/2010 (tức ngày 9 tháng 11 năm Canh Dần) tại nhà mẹ ở xóm Rừng, Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam, Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Huyện ủy - Ủy ban nhân dân - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Điện Bàn tổ chức trọng thể lễ truy điệu và tiễn đưa mẹ về nghĩa trang liệt sỹ huyện Điện Bàn, nơi an nghỉ cuối cùng của mẹ.
            Mẹ Thứ đã về với cõi vĩnh hằng, về với những người thân yêu quý nhất của mẹ đã vì dân, vì nước vĩnh viễn giã từ mẹ ra đi để đất nước hòa bình, độc lập như hôm nay. Mẹ Thứ không còn nữa, nhưng tên tuổi của một bà mẹ vĩ đại, một bà mẹ ngàn lần anh hùng vẫn mãi mãi ngời sáng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Các thế hệ hôm nay và mãi mãi về sau sẽ khắc ghi và biết ơn mẹ, để hun đúc và không ngừng phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, xây dựng quê hương đất nước ngày càng đổi mới phát triển đi lên.
            Trên đất nước Việt Nam thân yêu này và kể cả trên thế giới chưa có bà mẹ nào mà trong chiến tranh giải phóng dân tộc đã gánh chịu nhiều hy sinh, mất mát quá lớn lao như mẹ Thứ. Chồng mẹ là cụ Lê Tự Trị - một người dân bám trụ kiên cường năm xưa, người đã từng giáo dục truyền thống yêu nước cho đàn con cháu và động viên cả đàn con yêu quý lên đường cầm súng đánh giặc đã qua đời nhưng với mẹ Thứ vẫn đời đời trân trọng ghi nhớ hình ảnh người chồng yêu quý. Cả 2 vợ chồng mẹ đều sinh ra và lớn lên từ xóm Rừng, một vùng quê vốn có truyền thống cách mạng. Cuộc đời mẹ trải qua bao gian nan, lận đận. Năm 18 tuổi mẹ lập gia đình. Năm 20 tuổi mẹ sinh đứa con gái đầu lòng là chị Hai Trị là vợ, mẹ 2 liệt sỹ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng suốt cả cuộc đời luôn ở bên bà mẹ già. Thời gian trôi qua, hai vợ chồng mẹ có đến 12 đứa con (01 gái, 11 trai).
            Một nách 12 đứa con, cả cuộc đời mẹ Thứ nuôi con trong những năm tháng lận đận, đói nghèo. Cụ Trị mặc dù đã có vợ có con nhưng cụ vẫn tiếp tục đi ở, đi làm thuê mướn cho một số nhà khá giả trong làng để kiếm từng đồng bạc, lon gạo nuôi con. Con đàn cháu đống nhưng các con mẹ vừa đi học, vừa đi làm thuê mướn để giúp mẹ trang trải cuộc sống gia đình.
            Hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ quê hương Điện Thắng, Điện Bàn ngập chìm trong khói lửa chiến tranh. Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của cách mạng, chín lần mẹ lần lượt tiễn đưa 9 đứa con ra chiến trường. Đứa con gái lớn và 2 vợ chồng già ở lại bám trụ với xóm Rừng để vừa sản xuất, vừa đào hầm nuôi giấu cán bộ, du kích đánh giặc giữ làng.
            Ba mươi năm kháng chiến trường kỳ, bao đau thương mất mát đã tới tấp dội đến gia đình mẹ chín đứa con ra đi không một đứa trở về”.  Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, 4 đứa con yêu quý của mẹ đã ngã xuống trên khắp các chiến trường (Lê Tự Xiến, Lê Tự Hàng Anh, Lê Tự Hàng Em, Lê Tự Lem). Có năm trong nhà mẹ gánh chịu 3 cái tang con, trong đó có 2 tang chỉ cách nhau có 10 ngày. 21 năm đánh Mỹ, 5 người con yêu quý khác của mẹ cũng đã anh dũng hy sinh (Lê Tự Nự, Lê Tự Trịnh, Lê Tự Mười, Lê Tự Thịnh, Lê Tự Chuyển). Thật là đau thương cho mẹ, chỉ còn hơn một tiếng đồng hồ nữa là giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước, nhưng Lê Tự Chuyển – đứa con trai lớn, niềm hy vọng cuối cùng của mẹ là nó sẽ còn sống sót sau chiến tranh để về quê thay các em làm tròn chữ “hiếu” phụng dưỡng mẹ già sau bao nhiêu năm sống tha phương nơi đất khách Sài Gòn, vừa đạp xích lô, vừa làm cơ sở biệt động thành, nhưng đau đớn thay trên đường đưa quân giải phóng vào giải phóng Sài Gòn anh đã bị địch bắn chết ngay trên đường Trương Minh Giảng.
            Ngày quê hương giải phóng, bao gia đình ở quê hương mẹ với những đứa con đi xa có đứa mất, đứa còn lần lượt tìm về với mẹ, với cha, về với nơi “chôn nhau cắt rốn”, còn 9 đứa con yêu quý của mẹ thì biền biệt bỏ mẹ đi xa. Sự hy sinh này của gia đình mẹ quá đỗi lớn lao. Công lao to lớn, vĩ đại này của mẹ không có gì đền đáp nổi. Cả dân tộc Việt Nam đều kính phục với hình ảnh bà mẹ Thứ anh hùng trên quê hương Điện Bàn, quê hương Quảng Nam “Trung dũng, kiên cường đi đầu diệt Mỹ”.
            Một cuộc đời gánh chịu bao gian nan, bao hy sinh mất mát lớn lao như vậy nhưng mẹ Thứ vẫn lạc quan và sống thượng thọ 106 tuổi. Cái chất anh hùng bất khuất, trung hậu, đảm đang luôn là hành trang trong suốt cuộc đời mẹ. Những năm còn khỏe nằm trên chiếc giường tre mộc mạc, chân chất hồn quê rừng tre Thanh Quýt, mẹ vừa móm mém nhai trầu, vừa kể chuyện, hát hò khoan, hát ru con và quây quần nói cười vui vẻ bên đàn con cháu. Tuổi cao sức yếu, mắt mẹ đã bị mờ, nhưng mẹ rất sáng suốt, minh mẫn nhớ kỹ từng ngày kỵ cơm của chồng, của 12 người thân trong gia đình để nhắc nhở con cháu nội ngoại đừng quên một người nào.
            Một hình ảnh hết sức xúc động đối với mẹ là: Ngày 02/01/1996 trong tiết trời lành lạnh, lất phất mưa rơi, đồng chí Lê Đức Anh lúc ấy là Chủ tịch nước đã đến thăm mẹ, một bà mẹ được cả nước ghi ơn. Thấy mẹ già yếu, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã cởi ngay chiếc áo ấm đang mặc trên mình và kính trao cho mẹ mặc đủ ấm. Sự trân trọng kính phục ấy của đồng chí Lê Đức Anh cũng là sự trân trọng của Đảng, Nhà nước và của cả dân tộc Việt Nam, là động lực tinh thần vô giá giúp mẹ vượt qua bao nỗi đau hậu chiến và sống thượng thọ đến ngày hôm nay. Đây là hiện vật lịch sử - văn hóa rất có giá trị mà mẹ và gia đình suốt 15 năm qua đã trân trọng nâng niu, cất giữ. Lãnh đạo tỉnh Quảng Nam và huyện Điện Bàn kính xin mẹ và gia đình được đưa chiếc áo sâu nặng nghĩa tình ấy của Đảng, Nhà nước với bà mẹ Thứ về với Bảo tàng Điện Bàn khi mẹ đi xa.
            Mẹ còn sống nhưng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước đã lấy nguyên mẫu mẹ để xây dựng tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tượng đài nằm sừng sững giữa lòng đất Quảng anh hùng như là một biểu tượng để giáo dục truyền thống yêu nước, văn hóa và cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
            Nghe tin mẹ qua đời cả xóm làng Thanh Quýt, cả xã Điện Thắng và các địa phương trong huyện Điện Bàn đều dành cho mẹ những tình cảm thân thuơng, trìu mến, lo cho đám tang mẹ thật sự trang nghiêm, xứng tầm một bà mẹ vĩ đại – một Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu của cả nước. Ban lễ tang mẹ có đông đủ các đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, Bộ LĐTBXH, Huyện Điện Bàn, xã Điện Thắng Trung và tộc họ do đồng chí Lê Phước Thanh – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Quảng Nam làm Trưởng ban.
            Thương tiếc một bà mẹ anh hùng của dân tộc, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Chính phủ trân trọng gửi vòng hoa kính viếng hương hồn mẹ. Hàng nghìn người gồm các vị lãnh đạo các bộ, ban ngành, đoàn thể ở TW, các tỉnh, thành ở khắp mọi miền đất nước đã lặn lội tìm về xóm Rừng, làng Thanh Quýt - quê hương anh hùng liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi để viếng hương, tưởng nhớ một Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu của dân tộc: Bà mẹ Thứ, mẹ của ngàn đời./.
                                  
                                                                                                                                                                                                                            Theo website UBND huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
                                                                                                                                                                                                                                
www.hoilhpn.org.vn
      
 
Những thay đổi căn bản của phụ nữ Việt Nam trong 100 năm qua 
 
             Trong chế độ thực dân phong kiến, phụ nữ cùng nhân dân lao động cả nước sống trong tăm tối bị áp bức bất công, chịu nhiều thiệt thòi, không được bảo vệ dưới bất kỳ hình thức nào. Cho đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, và khi Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được thành lập, phụ nữ được tập hợp thành một tổ chức riêng ngày càng lớn mạnh và trưởng thành hơn trong kháng chiến, lao động, sản xuất.
               Họ tham gia tích cực trong các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước, cùng nhân dân cả nước đi đến thắng lợi cuối cùng là chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước. Đó là kết quả to lớn của gần một thế kỉ người phụ nữ hi sinh, cống hiến và đấu tranh. Và kết quả đó cuối cùng lại là động lực và môi trường lớn để giúp người phụ nữ được thay đổi và phát triển.
              Nhìn lại 100 năm qua chúng ta thấy thay đổi lớn nhất của người phụ nữ là biết phát huy sức mạnh nội tại của mình, tự tin, năng động và sáng tạo. Họ trở thành những người phụ nữ hiện đại ngày hôm nay do biết thích nghi thời đại, linh hoạt ứng dụng vào cuộc sống, lao động để có được thành công.
              1. Thay đổi về thể chế chính trị đối với phụ nữ: Đây là một điều kiện khách quan tác động rất lớn đến người phụ nữ. Trước đây, trong chế độ phong kiến và thực dân, người phụ nữ bị bóc lột và hành hạ, bị đẩy xuống tận cùng xã hội. Ngoài xã hội thì phụ nữ bị xem khinh như nô lệ. Ở gia đình thì họ bị kìm hãm trong xiềng xích “tam tòng”. Nhiều cực hình chỉ dùng áp dụng riêng đối với phụ nữ như: Thả bè trôi sông, gọt gáy bôi vôi, ngựa xé, voi giày... Bộ luật Hồng Đức thời nhà Lê được coi là tiến bộ nhất trong đó có những điều khoản bảo vệ quyền của phụ nữ, song vẫn thừa nhận chế độ đa thê và xác lập địa vị tối cao của người đàn ông trong gia đình. Luật Gia Long ban hành năm 1812, trong đó có những điều hết sức phi lí đối với người phụ nữ như điều 108 với “Thất xuất” - 7 điều người đàn ông được quyền bỏ vợ.
                Sau năm 1945, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi rõ trong điều 9 quyền bình đẳng của phụ nữ: “Tất cả quyền bình đẳng trong cả nước là của nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, giai cấp tôn giáo” và “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Như vậy, quyền công dân, quyền bình đẳng của người phụ nữ được xác lập và thực hiện. Người phụ nữ đã chính thức thoát khỏi sự áp bức về giai cấp và được giải phóng khỏi chế độ thực dân cũng như phong kiến. Điều này tác động mạnh mẽ đến mỗi người phụ nữ. Họ trở thành những người phụ nữ mới, biết sống, biết cống hiến. Và với tinh thần công dân của một nước độc lập, phụ nữ Việt Nam đã đóng góp không nhỏ trí tuệ, sức lực... của mình vào sự nghiệp đấu tranh và xây dựng đất nước trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này.
             Tính đến nay Nhà nước đã ban hành 3 bộ luật dành cho phụ nữ: Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng chống bạo lực gia đình và nhiều bộ luật chung có đề cập tới việc bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ: Luật Lao động, Luật Dân sự, Luật Đất đai...
             Mặt khác, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định theo hướng tập trung vào việc nâng cao quyền năng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao vị trí của phụ nữ từ nhóm đối tượng trở thành chủ thể tham gia vào các quá trình phát triển. Việc thực hiện pháp luật cũng như các hoạt động cụ thể của các cơ quan, tổ chức về cơ bản đã bảo đảm quyền con người và quyền bình đẳng của phụ nữ trong mối tương quan đa chiều với nam giới trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; loại trừ tất cả các hành vi phân biệt đối xử đối với phụ nữ về mọi mặt, tạo điều kiện cho phụ nữ vươn lên và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.
               Bên cạnh các bộ luật là một loạt nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính phủ về công tác phụ nữ: Chỉ thị 137/CT-TW ban hành năm 1959 Về tăng cường công tác vận động phụ nữ; Chỉ thị 99/CT-TW ban hành năm 1965 Về nhiệm vụ chủ yếu trong công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới; Nghị quyết 152/NQ-TW ban hành năm 1967 Về công tác phụ vận; Nghị quyết 153/ NQ-TW ban hành năm 1967 về công tác cán bộ nữ, Chỉ thị 44/CT-TW ban hành năm 1984 Về công tác cán bộ nữ; Nghị quyết 176A/NQ-TW ban hành năm 1984 Về phát huy vai trò năng lực phụ nữ; Nghị quyết 04/NQ-TW ban hành năm 1993 Về đổi mới công tác phụ nữ trong tình hình mới; Chỉ thị 37/CT-TW ban hành năm 1994 Về công tác cán bộ nữ; Nghị quyết số 11/ NQ-TW ban hành năm 2007 Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước...  Tất cả những thuận lợi đó giúp phụ nữ có điều kiện phát triển và phát huy sức mạnh của mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và đóng góp cho xã hội.
               Đặc biệt, phụ nữ Việt Nam có một tổ chức riêng của giới mình là Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, một tổ chức chính trị - xã hội đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của 50.5% dân số (trong đó có trên 14 triệu hội viên) được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, liên hiệp, thống nhất hành động với hệ thống tổ chức chặt chẽ gồm 4 cấp từ Trung ương đến cơ sở. Hội LHPNVN được Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật xác định là cơ sở của chính quyền nhân dân, có quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội thông qua các hoạt động: Trình dự án luật ra trước Quốc hội; tham dự các phiên họp của Chính phủ, các kỳ họp Hội đồng nhân dân, hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan; tham gia xây dựng luật pháp, chính sách về bình đẳng giới; phổ biến, giáo dục pháp luật; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phụ nữ trong quá trình tố tụng; giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước; giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; thực hiện phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; tham gia các tổ chức tư vấn (Hội đồng, Uỷ ban, Ban chỉ đạo, Ban quản lý...) cho cơ quan hành chính Nhà nước các cấp về các vấn đề liên quan đến phụ nữ và tham gia các đoàn kiểm tra của cơ quan hành chính Nhà nước các cấp về các vấn đề liên quan đến phụ nữ và trẻ em...
              2. Thay đổi về môi trường, văn hoá: Về trình độ văn hóa trước đây phụ nữ bị cấm đi học, chỉ có một số người trong dòng dõi quí tộc được học chữ nhưng do thầy dạy riêng, gần như 100% phụ nữ không biết chữ. Sau năm 1945 việc xóa mù cho nhân dân được Chính phủ Việt Nam coi là một nhiệm vụ trọng tâm tương đương với việc chống giặc đó là “giặc dốt”. Các lớp bình dân học vụ ra đời và từ đó phụ nữ đã thoát được mù chữ, có trình độ tham gia các hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội.
              - Về quan hệ giao tiếp: Trước đây, phụ nữ chỉ giao tiếp trong phạm vi rất hẹp: Gia đình và làng xóm, không có các mối quan hệ rộng rãi, không được tham gia các tổ chức. Phong tục tập quán, đạo đức truyền thống chỉ cho họ một môi trường nhỏ bé, tù túng trong bốn bức tường với những người trong gia đình và những người bạn gái. Càng về sau, sự thay đổi vận động của xã hội tác động làm môi trường đó khác đi, rộng ra và lớn hơn. Chưa bao giờ môi trường văn hóa ở Việt Nam lại phong phú và đa dạng, lại năng động và tích cực, lại khích lệ và cám dỗ, lại có nhiều cơ hội và thách thức... như hiện nay. Phụ nữ được giải phóng khỏi những gò bó, những bất công, họ được mở rộng quan hệ ra đến quốc gia và quốc tế, được giao lưu, học hỏi và phát triển.
                 3. Thay đổi về địa vị:
               Đây là thay đổi mang tính chủ quan thể hiện được sự chủ động trong nhận thức của người phụ nữ. Từ những người lệ thuộc, thụ động trong gia đình, họ được ngang hàng, bình quyền với nam giới. Từ vị trí là người bị thống trị họ trở thành những người chủ của đất nước. Trong gia đình họ được quyền bình đẳng cùng quyết định mọi vấn đề với chồng con, có tên trong giấy sử dụng đất... Ngoài xã hội, họ được tôn trọng, được tham gia các lĩnh vực. Vị thế của họ ngày càng được khẳng định khi họ trở thành những người lãnh đạo, những người có kiến thức... Tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội và các tổ chức, doanh nghiệp ngày càng tăng, cả số lượng và chất lượng đều được cải thiện. Phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào các vị trí trọng trách trong các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, trong hơn 15 năm qua, Việt Nam luôn có Phó Chủ tịch nước là nữ.
              Phụ nữ được tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi để tham gia bầu cử và ứng cử bình đẳng với nam giới; tỷ lệ phụ nữ tham gia bầu cử trong kỳ bầu cử Quốc hội khóa XII là 99,9%. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội là nữ của Việt Nam đứng ở vị trí cao thứ 31 trên thế giới và dẫn đầu trong 8 nước ASEAN có nghị viện. Trình độ, năng lực của chị em ngày càng được nâng lên đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Phụ nữ tham gia hầu hết các lĩnh vực của xã hội, tham gia quản lý và lãnh đạo các ngành, các cấp.
            Địa vị của phụ nữ không chỉ tăng lên trong xã hội mà còn tăng lên trong gia đình, do địa vị kinh tế, xã hội được cải thiện. Cụ thể, phụ nữ ngày càng được bình đẳng với nam giới trong quyền quyết định các công việc quan trọng. Từ chỗ người chồng chỉ huy và toàn quyền quyết định trước đây, giờ đã chuyển dần sang việc cả hai vợ chồng cùng bàn bạc quyết định và cùng chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc giáo dục con cái.
               4. Thay đổi về vóc dáng, sức khoẻ, thể lực:
              Trước đây, với sự tự ti về bản thân, phụ nữ mặc nhiên co mình trong một cảm giác bé nhỏ, sợ sệt. Cuộc sống vất vả thiếu thốn, nên họ không có được mặt hoa da phấn, xinh đẹp, tươi tắn như bây giờ. Trong chiến tranh, kham khổ, vất vả phụ nữ chỉ quan tâm đến lao động và chiến đấu. Họ đẹp, khỏe mạnh với những vẻ đẹp chân chất mộc mạc của cô du kích, chị dân công. Nhưng hiện nay phụ nữ biết hưởng thụ, biết làm đẹp, nên họ sở hữu một vóc dáng khác hơn, trẻ trung hơn, hiện đại hơn.
               Sức khỏe của phụ nữ ngày càng được quan tâm hơn. Phụ nữ cũng chủ động hơn trong việc chăm lo sức khỏe cho mình. Đặc biệt những năm gần đây, các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ đã được quan tâm hơn rất nhiều, tình hình sức khỏe phụ nữ có nhiều cải thiện. Chính những yếu tố này tác động đến tuổi thọ trung bình của phụ nữ Việt Nam. Theo số liệu điều tra chuyên đề của Bộ Y tế, tuổi thọ bình quân của dân số Việt Nam năm 2005 là 71 tuổi; năm 2006 đạt 71,3 tuổi và năm 2008 đạt 71,8 tuổi. Ước tính đến năm 2010, tuổi thọ bình quân của phụ nữ Việt Nam đạt 72 tuổi.
            5. Thay đổi về phong cách ăn mặc:
            Đây là một thay đổi thể hiện về sự sáng tạo, hiện đại của phụ nữ Việt Nam. Trước đây, thời phong kiến, phụ nữ chỉ có váy đụp với gam màu nâu, đen. Những bộ đồ đẹp rực rỡ hơn như áo tứ thân, mớ ba mớ bảy thì chỉ thường được mặc vào những dịp lễ hội... Trang phục hàng ngày chỉ có quần nâu, thâm với chiếc áo tối màu. Trong chiến tranh, thiếu thốn mọi thứ, trang phục cũng vẫn những gam màu đó. Thời bao cấp mỗi người chỉ có được cấp 4m vải/năm, không có điều kiện cho chị em được mặc đẹp. Chỉ đến khi kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống được nâng cao, mở rộng quan hệ thì vấn đề ăn mặc được quan tâm rất nhiều. Bây giờ phụ nữ có nhiều mẫu thời trang khác nhau phù hợp cho từng hoàn cảnh. Có nhiều nhà thiết kế thời trang riêng cho nữ giới phù hợp với công việc: Thời trang công sở, Áo dài, Áo cưới, dạ hội… để làm cho phụ nữ ngày nay đẹp hơn, tự tin hơn trong mọi hoạt động của mình.
                                                                                                                        
                                                                                                                                                                                                                  
                                              Dương Thị Hằng - Bảo tàng PNVN
                                                                                                                                                                                                                                   www.hoilhpn.org.vn
 
 
ĐẶC ĐIỂM VÀ TRUYỀN THỐNG NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM
 
          Từ thời đại các vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, qua những chặng đường vô cùng oanh liệt dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ truyền thống thông minh, sáng tạo, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm. Trải qua bốn nghìn năm, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được xây dựng và lưu truyền trong nền văn học dân gian: Bà Âu Cơ đưa các con đi mở nước và dạy dân dựng làng; bà mẹ Dóng kiên trì nuôi đứa con “Chậm lớn, chậm đi” và giúp con lên đường đánh giặc, nàng Quế Hoa, cô gái dùng đá làm vũ khí, tung hoành giữa đám giặc Ân... Nguồn tư liệu khảo cổ học cũng bảo tồn những hình tượng thật của người phụ nữ “uy nghi chống nẹ trên chuôi kiếm” hoặc “nhịp nhàng giã cối, uyển chuyển đánh trống đồng”; Hai Bà Trưng, bà Triệu và những phụ nữ tài giỏi, dũng cảm khác của thời đại Ngô, Đinh, Lê, Trần, Lý, Tây Sơn như Thái hậu Vương Vân Nga, Ỷ Lan nguyên phi, đô đốc Bùi Thị Xuân... đã được ghi vào lịch sử thành văn của dân tộc.
          Cùng với sự phản ánh về lịch sử đất nước, lịch sử dân tộc, mọi nguồn tư liệu đã cho thấy, vào những thế kỷ trước và sau công nguyên, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ nữ là những người đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng.
          Hình ảnh nổi bật về người phụ nữ Việt Nam cổ truyền là người nữ sĩ đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
         Vai trò của phụ nữ ta thật rõ ràng khi mà lịch sử dân tộc đã phải dành đến một phần ba thời gian cho 24 cuộc chiến tranh giữ nước với quy mô cả nước và hàng trăm cuộc khởi nghĩa để giành độc lập.
          Một nhà thơ đã viết:
            “Trên đất nước nghìn năm chảy máu,
           Nghìn năm người con gái vẫn cầm gươm”
          Từ thế kỷ III trước công nguyên, trong những thời kỳ mà sử cũ gọi là “Bắc thuộc”, cùng với cả dân tộc, những người phụ nữ Việt Nam đã kiên quyết đứng lên chống bọn thống trị phương Bắc để giành lấy quyền sống. Vì khi có nạn ngoại xâm,  phụ nữ là người trực tiếp chịu hậu quả nặng nề nhất. Thế kỷ XIII, giặc Nguyên – Mông tràn vào Thăng Long “làm cỏ nhân dân kinh thành”, vào thành Đông Đô, giặc Minh đã cướp bắt đàn bà con gái, mỗ bụng đàn bà có thai, giết chết cả mẹ lẫn con, cắt tai đem nộp cho chủ tướng (năm 1909). Tướng giặc Trương Phụ bắt phụ nữ ta đưa về nước làm tôi đòi, tì thiếp (năm 1414). Nhà Minh ra lệnh buộc phụ nữ Việt Nam phải bím tóc, mặc áo ngắn, quần dài, theo phong tục của chúng. Thế kỷ XVIII, giặc Mãn Thanh và lũ tai sai bán nước trói phụ nữ vào cột ở giữa chợ, giết cả mẹ lẫn con vì họ đã đi theo nghĩa quân Tây Sơn...
          Mở đầu truyền thống “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” là hai vị nữ anh hùng dân tộc: Bà Trưng Trắc và em bà là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Đông Hán giành lại quyền tự chủ cho đất nước. Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo (năm 40 đầu công nguyên) lôi cuốn một lực lượng quần chúng đông đảo chưa từng thấy, chỉ trong một thời gian, 65 thành đã giải phóng, mở ra một trang sử vẻ vang cho dân tộc.
          Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thức tỉnh tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, đã phủ định cái uy quyền “bình thiên hạ” của đế chế Hán đang thời kỳ thịnh đạt, đồng thời nó cũng khẳng định khả năng giành độc lập, mở đường cho các thế hệ sau đi tới thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nó còn chứng minh khả năng cách mạng to lớn của phụ nữ: Không những chiến đấu dũng cảm chống ngoại xâm mà còn động viên, đoàn kết và lãnh đạo quần chúng rất tài giỏi.
          Dân tộc ta còn ghi nhớ những gương phụ nữ kiệt xuất (36 nữ tướng) cùng đứng lên với Hai Bà gánh vác sự nghiệp đánh giặc cứu nước. Các nữ tướng như Lê Chân được thờ ở Hải Phòng. Thiều Hoa được thờ ở Vĩnh Phú, Thánh Thiên được thờ ở Hà Bắc, Lê Thị Hoa được thờ ở Thanh Hóa...
          Sau Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, một lần nữa, khẳng định ý chí tự chủ, tinh thần độc lập của dân tộc với câu nói hào hùng đầy khí phách của Bà: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi vòng chìm đắm, chứ đâu có chịu cúi đầu khom lưng làm tì thiếp cho người”.
          Tài làm tướng chỉ huy chiến đấu ở trận tiền của bà khiến giặc Ngô phải khiếp sợ gọi bà là Bà Vương (Vua Bà). Còn nhân dân ta rất tự hào truyền tụng lại cho nhau hình ảnh kiên cường của người nữ tướng cưỡi voi đánh giặc:
            “Con ơi, con ngủ cho lành
            Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi”
          Bằng những cách đánh giặc muôn hình muôn vẻ, các thế hệ phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến vẫn không ngừng tích cực tham gia vào sự nghiệp cứu nước.
Bà hàng nước thành Cổ Lộng (Nam Hà) làm nội ứng cho nghĩa quân Nam Sơn của Lê Lợi - Nguyễn Trãi hạ thành.
          Và nhiều phụ nữ khác ở thời Trần, thời Lê, thời Tây Sơn đã trực tiếp đánh giặc theo nhiều cách. Đấy là những người phụ nữ ở ven sông Bạch Đằng, đem hết thóc gạo trong nhà lương ăn cho quân sĩ, và mách Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn giờ nước thủy triều của dòng sông quê hương, giúp nhà Trần lập nên chiến công sông Bạch Đằng lẫy lừng.
          Trong phong trào nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ XVIII, đô đốc Bùi Thị Xuân, một tướng lĩnh trụ cột của Quang Trung - (Nguyễn Huệ), chỉ huy một đạo quân riêng gồm 5 nghìn quân phục màu đỏ, đã nhiều phen làm quân thù thất bại thảm hại, nhất là ở trận Trấn Ninh nổi tiếng.
          Thế kỷ XIX, chống lại triều đại phong kiến nhà Nguyễn “Bà Ba Cai Vàng” (tên thật là Yến Phi) chỉ huy cuộc nổi dậy của nông dân đánh chiếm thị trấn Lạng Giang (Bắc Giang), Văn Giang (Hưng Yên) và Bắc Ninh. Một bài vè còn truyền tụng mãi trong nhân dân:
              “Khen thay trí lực đàn bà
            Bắc Ninh tài tướng bà Ba Cai Vàng”
          Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta và cấu kết với phong kiến thống trị nhân dân ta, các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã cùng với dân tộc, phát huy truyền thống đánh giặc cứu nước.
          Bà Đinh Phu Nhân 10 năm liền hoạt động dũng cảm trong phong trào Duy Tân, tới khi bị giặc bắt, tra khảo nhưng bà không khai nửa lời. Trước khi tử tiết bà để lại  thơ tuyệt mệnh viết bằng máu trên tường ngục, có câu:
          Suối vàng gạt lệ gặp Bà Trưng
          Máu thấm hồn quyên khóc thảm thương
           Lạy Phật: Thân này còn hóa kiếp
           Tay binh nghìn cánh, cánh nghìn gươm
          Người phụ nữ Việt Nam, không những chỉ xuất hiện khi vận nước lâm nguy mà ngay cả trong đấu tranh dưới mọi hình thức chống áp bức bất công. Sự phản kháng chế độ phong kiến, lễ giáo Khổng Mạnh khi âm thầm, lúc quyết liệt diễn ra suốt hàng nghìn năm.
          Thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến ngày càng suy tàn mọt ruỗng (thời Lê Mạt, Trịnh Nguyễn phân tranh, “rạch đôi sơn hà làm cho trăm họ lầm than”), trong phong trào nông dân khởi nghĩa, cuộc đấu tranh của phụ nữ chống ách thống trị phong kiến đã lan rộng ra nhiều lĩnh vực: Bùi Thị Xuân trong quân sự, Hồ Xuân Hương trong văn học...và còn biết bao nữ danh nhân khác. Ca dao, truyện, thơ, truyện tiếu lâm thời kỳ đó đã phản ánh trung thực sinh động.
          Đặc biệt, ý thức chống chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến đã được Hồ Xuân Hương thể hiện rõ ràng, dứt khoát khi bà tố cáo chế độ đa thê:
           “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,
            Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
           Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
            Cầm bằng làm mướn, mướn không công”
          Lịch sử Việt Nam còn ghi đậm nét những hình ảnh thường ngày về người phụ nữ Việt Nam cổ truyền, người phụ nữ cần cù trong lao động: “Sớm ra ruộng lúa, tối về nương dâu”... “Vai vác cái cày, tay đuổi con trâu, cái cuốc cho lẫn cái gầu, con dao rựa phát đèo đầu gánh phân”...
          Theo sử liệu, ngay từ thế kỷ X và XV, đã có lúc Nhà nước huy động tới một triệu người vào quân đội, chiếm tỉ lệ một phần năm dân số. Người phụ nữ phải đảm đang lao động sản xuất:
             “Ai đi theo chúa Tây Sơn
              Em về cày cuốc mà thương mẹ già”
          Việc điều động những lực lượng lao động lớn nam giới vào các công trình tập trung, đào sông, khơi mương, đắp máng, đắp đê phòng lụt và những việc đắp thành lũy, xây cung điện, dựng đền đài làm cho phụ nữ trở thành lực lượng lao động quan trọng trong nông nghiệp.
          Trong lịch sử Việt Nam, phụ nữ là những người tham gia đông đảo, tích cực vào tất cả những hoạt động sản xuất. Những ca dao như “Thân em vất vả trăm bề...” hoặc “em ôm bó mạ xuống đồng...”, “có con sáo đậu bờ rào, nhìn em tát nước hát chào líu lo”, “Lúa tốt vì bởi có phân, vì tay em lấm, vì chân em mòn...” rõ ràng phản ánh sự thực lịch sử về vai trò của ng­ười phụ nữ Việt Nam trong lao động. Những ngư­ời viết sử nư­ớc ngoài vào thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII đã có những nhận xét : “Phụ nữ xứ này rất năng động. Họ làm nhà làm gốm, chèo thuyền, bán hàng, bật bông kéo sợi, dệt vải, may vá quần áo, phần lớn công việc là do phụ nữ cáng đáng”.
          Với tinh thần cần cù sáng tạo ngư­ời phụ nữ lao động đã chăm lo đến công việc chung một cách tự giác.
 Lịch sử của nhiều ngôi làng trù mật ở trung du đồng bằng ngày nay đã bắt đầu­ từ ba thế kỷ trước, với điều ghi nhận về những ng­ười phụ nữ đầu tiên đã cùng với bà con khai rừng, bạt đồi, đuổi thú, phát cỏ mà làm nên ấm no, thịnh vượng cho cả một vùng.
          Lập đư­ợc những thành tích lao động ấy hiển nhiên ngư­ời phụ nữ phải có một đầu óc lo liệu. Chỉ một việc đi cấy thôi,  người  phụ nữ cũng phải: “Trông trời, trông đất, trông mây/ Trông mư­a, trông gió, trông ngày, trông đêm”. Trong quá trình làm nông nghiệp đời này qua đời khác, ý thức lao động dần dần đi vào tình cảm trở thành bản chất tốt đẹp của ng­ười phụ nữ. Lao động  kiên trì, nhẫn nại trở thành lẽ sống của phụ nữ vì chồng con, vì gia đình, vì đất nư­ớc.
          Nh­ững cố gắng của phụ nữ đ­ược đền bù, kỹ năng lao động đư­ợc rèn luyện, ngư­ời phụ nữ lao động cổ truyền Việt Nam đã nổi tiếng là khéo tay, và lúc nào đấy đã có những sáng tạo thật độc đáo.
          Với sự tham gia đông đảo, quan trọng và thư­ờng xuyên của ngư­ời phụ nữ, nền nông nghiệp Việt Nam x­ưa đã đạt được những thành tựu đáng kể. Hàng nghìn năm tr­ước, nông nghiệp của ta đã giải quyết đư­ợc việc chuyển vụ, tăng vụ. Lúa đã đư­ợc trồng đến 2 vụ, 3 vụ năm và hơn nữa tại một số vùng lên tới 4 vụ ở thế kỷ XIII. Nhiều cây rau quả cũng đã đư­ợc trồng trọt từ rất sớm ở Việt Nam. Và cùng với kết quả đó là cả một kho tàng kinh nghiệm sản xuất đã đư­ợc tích lũy xây d­ựng qua nhiều thế kỷ. Người phụ nữ ngày xư­a tầm tơ canh cửi là chủ nhân của những bánh xe quay sợi bằng đất nung, đến những tấm gấm thời Lý... Đây là những ng­ười mà từ những thế kỷ đầu công nguyên - theo sự ghi chép của sử liệu thành văn - đã lập đ­ược những kỷ lục về trồng dâu nuôi tằm; một năm tám lứa, tơ lụa, sa the, lĩnh, láng mà nư­ớc ngoài chuộng mua phần lớn đều sản xuất ra từ những bàn tay khéo léo của ng­ười phụ nữ lao động Việt Nam.
            Chính từ sự tham gia lao động sản xuất đã hình thành sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của ngư­ời phụ nữ. Cái cảnh tượng quen thuộc của nông thôn Việt Nam xưa:
             “Trên đồng cạn d­ưới đồng sâu
             Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”.
            Đồng thời cũng biểu biện một đặc điểm của xã hội Việt Nam:
           “Thuận vợ, thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”.
          Một hình ảnh nữa về ngư­ời phụ nữ cổ truyền Việt Nam mà các nguồn tư­ liệu đều thống nhất phản ánh, chính là ngư­ời phụ nữ chủ gia đình.
          Những đức tính quý báu đầu tiên của ng­ười phụ nữ gánh vác gia đình x­a là trung hậu đảm đang.
          Đảm đang gia đình trong tình hình phải luôn luôn đối phó với thiên tai, địch họa, người phụ nữ càng thông cảm gắn bó với bà con, xóm giềng thành một cộng đồng nư­ơng tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn hoạn nạn. Đức tính vị tha, khiêm như­ờng thủy chung nh­ư nhất trở thành một truyền thống “thương ngư­ời như­ thể thư­ơng thân”.
          Vô vàn những điển hình trong văn học dân gian phản ánh tinh thần hy sinh của ng­ười phụ nữ Việt Nam trong gia đình: “bên ướt mẹ nằm, bên ráo phần con” là điều phổ biến.
          Mặt khác, tính khiêm nh­ường, lòng vị tha, đức tính hy sinh  và lòng yêu thư­ơng sâu sắc của người phụ nữ tỏa ra trong gia đình, khiến cho ng­ười phụ nữ có một vị trí đặc biệt. Xã hội x­ưa đối với ngư­ời phụ nữ chủ gia đình đã biểu lộ sự kính nể.
          Đô hộ đất nước ta, bọn phong kiến phương Bắc tìm mọi cách đồng hóa dân tộc ta. Vì vậy lịch sử Việt Nam cũng là lịch sử bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc, trong đó người phụ nữ giữ vai trò rất tích cực.
          Trách nhiệm của các bà mẹ Việt Nam nuôi dạy con cái từ tuổi bé thơ đến lúc trưởng thành, đã được xã hội ta từ xưa đánh giá cao “cha sinh không bằng mẹ dưỡng”.
          Qua những câu hát ru con, mẹ dạy con tình yêu đất nước, lòng biết ơn đối với tổ tiên:
           “Uống nước phải nhớ đến nhớ đến nguồn
            Được ăn quả chín nhớ ơn người trồng”
          Mẹ dạy con phải yêu thương đoàn kết:
           “Một cây làm chẳng nên non,
            Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”,
          Mẹ dạy con phong cách sống của người Việt N am:
          “Thà chết trong còn hơn sống đục”
          Mẹ dạy con phải yêu quý lao động như lẽ sống ở đời:
          “Tay làm, hàm nhai, tay quai miệng trễ”
          Hòa với dòng sữa và mối tình của mẹ, tiếng ru xưa gợi lên đầu óc đứa con thơ những nhận thức và tình cảm đầu tiên mà sau đó, cho mãi đến lúc lớn khôn, con người vẫn còn ghi nhớ mãi.
          Những bài học, những kinh nghiệm đúc kết trong hàng nghìn năm lịch sử, những tình cảm, tâm lý, đạo đức của dân tộc Việt Nam, một phần quan trọng do những phụ nữ xưa gìn giữ và truyền thụ cho đời sau.
          Đối với con người, người chồng, người yêu đi xa, hình ảnh người mẹ, người vợ cũng là hình ảnh của quê hương đất nước, và cũng tạo nên những tình cảm dân tộc và những hình ảnh tích cực khác trong đời sống xã hội.
            - “Anh đi anh nhớ quê nhà...
           Nhớ con cá bống ngắt đầu kho tiêu”
            - “Anh đi anh nhớ quê nhà
            Bát canh rau muống, quả cà dầm tương”
          Việc nấu nướng các món ăn dân tộc được nâng lên thành nghệ thuật, trở thành một hình thức phong tục, kinh nghiệm kỹ thuật ở những cuộc thi trong các hội làng xưa.
          Phụ nữ còn là những nghệ sỹ sáng tác và hát dân ca, múa dân tộc và tham gia xây dựng một nền nghệ thuật sân khấu cổ truyền tài hoa, đặc sắc.
          Trong nền văn chương bác học của dân tộc, những người phụ nữ có điều kiện được ăn học cũng đem tài nghệ và tâm hồn hòa vào các dòng văn thơ chung, góp phần vào việc phát triển nền văn hóa dân tộc.
          Đó là nàng Điểm Bích đời Trần Anh Tông với bài thơ nổi tiếng và duy nhất bằng tiếng mẹ đẻ từ thời Trần còn sót lại. Đó là nữ học sĩ Ngô Chí Lan đời Lê Thánh Tông, nổi tiếng với chùm thơ “Tứ thời” (lịch bốn mùa). Nguyễn Thị Dú, người làng Kiệt Đặc, cải trang đi thi Hội đã đỗ thủ khoa triều Mạc, làm đến chức Lễ Sử ở triều đình nhà Hậu Lê. Trịnh Thị Ngọc Trúc, giữa thời Lê Trịnh nhiễu nhương, đã từ bỏ mọi vinh hoa phú quý để miệt mài hoàn thành bộ “Từ điển tiếng Việt” cổ nhất của dân tộc...
          Đặc biệt trong nền văn chương của dân tộc ở các thế kỷ XVIII, XIX, đã nở rộ một chùm hoa đẹp của “Văn học phụ nữ” với bốn cây bút: Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan và công chúa Lê Ngọc Hân.
          Các thế lực phong kiến phương Bắc, từ bao đời mưu toan thủ tiêu nền văn hóa Việt Nam – từ những giáo hóa về hôn nhân gia đình của bọn quan lại nhà Hán, đến chính sách đồng hóa về phong tục của bọn quan lại nhà Minh, v.v...
          Những nữ chiến sĩ – nghệ sĩ Việt Nam đã góp phần tích cực làm thất bại mưu toan đồng hóa của kẻ thù, bảo vệ và phát triển nền văn hóa của dân tộc.
 
                                                                                                                       * * *
          Những trang sử cũ và những nguồn tư liệu đã phản ánh hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử:
          - Lao động thông minh, cần cù.
          - Là trụ cột gia đình, nuôi già dạy trẻ.
          - Là người nghệ sĩ tài hoa, sáng tạo và bảo vệ văn hóa dân tộc.
          - Là người chiến sĩ giữ n­ước kiên cư­ờng, bất khuất.
          Lịch sử và dân tộc đã ghi nhận vai trò tích cực khả năng và cống hiến to lớn của ng­ười phụ nữ cổ Việt Nam trong sự nghiệp dựng nư­ớc và giữ nư­ớc trên mọi lĩnh vực. Song ách thống trị về mặt giai cấp của các thế lực phong kiến kéo dài hàng nghìn năm chất nặng lên đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Việt Nam, của ng­ười phụ nữ Việt Nam.
          Chế độ phong kiến tập trung quyền hành vào ông vua để thống trị nhân dân, và trong gia đình thì quyền hành tập trung vào ng­ười đàn ông gia trư­ởng để áp bức phụ nữ. Trong sách Bình Hồ gia huấn có câu: “Gái trong cửa kín như­ bưng/ Khác nào chim chích vào rừng biết chi”.
          Từ Luật Hồng Đức đến Luật Gia Long là quá trình phát triển ngày càng phản động của chế độ phong kiến đối với phụ nữ. Những cực hình, chỉ áp dụng riêng đối với phụ nữ: Thả bè trôi sông, gọt gáy bôi vôi, ngựa xé, voi giày...
          Đến tuổi lấy chồng, ngư­ời con gái không có quyền đ­ược lựa chọn ng­ười chồng. Với tục “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và với lệ thách cư­ới ngư­ời con gái trở thành một vật trao đổi mua bán.
          Một khi việc “gả bán” đã xong, ng­ười con gái rời nhà cha mẹ, sống cuộc đời “xuất giá tòng phu”, ngư­ời vợ không còn giữ đư­ợc địa vị tư­ơng xứng với vai trò của mình trong gia đình, trái lại còn bị ng­ược đãi đủ điều.
           “Lấy chồng từ thuở m­ười lăm, chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi”, “Bảy mư­ơi m­ười bảy bao xa, bảy m­ươi có của, mười ba cũng vừa” - Suốt đời họ phải chịu những hậu quả tai hại về thể xác và tinh thần. Và, với quan niệm “tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ có một chồng”, những ngư­ời phụ nữ nạn nhân của chế độ đa thê (bất kể là vợ cả hay vợ lẽ) suốt đời chìm đắm trong những mối mâu thuẫn, bất hòa, khổ đau nhiều khi chỉ vì những chuyện rất vụn vặt.
          Khi ng­ười chồng chết, ngư­ời phụ nữ mất hết quyền thừa kế tài sản và phải phục tòng người con trai.
                                                                                                                * * *
          Từ giữa thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn phản động đã đầu hàng nhục nhã khi thực dân Pháp xâm lư­ợc nư­ớc ta. Nư­ớc ta đã trở thành một n­ước thuộc địa và nửa phong kiến.
          Cảnh ngộ ngư­ời phụ nữ Việt Nam trong gần 100 năm bị thực dân Pháp thống trị lại càng bi đát.
Ngay từ nhữ­ng năm đầu xâm lư­ợc Việt Nam, giặc Pháp đã đốt phá, giết chóc và hãm hiếp, gây biết bao tai họa cho nhân dân và phụ nữ ta ở khắp nơi.
          Về tội ác của quân cướp nước đối với phụ nữ cũng như đối với cả dân tộc, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã nói: “Phạt cho đến kẻ hèn ngư­ời khó, thân của quang treo, tội chẳng tha con nít đàn bà , đốt nhà bắt vật...”
          Cấu kết chặt chẽ với bọn phong kiến bán nư­ớc và giai cấp địa chủ phản động, chủ nghĩa đế quốc Pháp đã thi hành những chính sách hết sức tàn bạo. Chúng chia cắt n­ước ta làm ba “Kỳ”, chia rẽ dân tộc đa và thiểu số; chúng c­ướp đất, một phần để khai thác đồn điền, hầm mỏ... làm cho hàng triệu ng­ười phải rời bỏ quê h­ương, trở thành nguồn nhân công rẻ mạt để chúng tha hồ bóc lột nạo vét đến tận xư­ơng tận tủy. Chúng thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố vô cùng dã man kìm hãm ngu dân, đầu độc và ra sức phá hoại nh­ững truyền thống, phong tục tốt đẹp của nhân dân ta. Trong gần 100 năm thống trị đất nư­ớc ta, thực dân Pháp dìm cả dân tộc ta vào cuộc sống nô lệ, đói nghèo lạc hậu, dốt nát mê tín. Chúng mở sòng bạc, nhà chứa, tiệm nhảy nhiều hơn bệnh viện, nhà hộ sinh, cấm ngặt sách báo tiến bộ, cho  tự do  tiêu thụ r­ượu, thuốc phiện.
          Trư­ớc cảnh nư­ớc mất nhà tan, quyền sống bị t­ước đoạt nhân phẩm bị chà đạp, nhiều phong trào yêu nư­ớc đã nổi dậy chống thực dân: phong trào Cần Vương của Phan Đình Phùng, phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu, phong trào cải cách dân chủ tư sản do Phan Chu Trinh đề xư­ớng, cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, phong trào nào phụ nữ cũng tham gia đông đảo.
          Tuy nhiên các phong trào đó đều thất bại không có đường lối và ph­ương hướng giải phóng dân tộc đúng đắn. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc là ng­ười đầu tiên đưa ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin đến cho dân tộc ta, phụ nữ ta.
          Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đư­ờng cứu n­ước hợp với trào lư­u tiến hóa của nhân loại. Đồng chí đã khẳng định: “Muốn cứu nước không có con đ­ường nào khác con đư­ờng cách mạng vô sản”.
          Toàn thể nhân dân Việt Nam bị áp bức bóc lột, trong đó giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là lực l­ượng chủ yếu vùng dậy đấu tranh chống bọn thống trị thực dân phong kiến. Phụ nữ Việt Nam chiếm số đông trong nhân dân lao động không những bị áp bức về dân tộc, về giai cấp mà còn bị giáo lý phong kiến kìm hãm trói buộc, nên họ có tinh thần đấu tranh cách mạng mạnh mẽ. Có phụ nữ tham gia thì cách mạng mới thành công, mặt khác, chỉ khi nào cách mạng thành công, dân tộc đư­ợc độc lập, giai cấp đ­ược giải phóng, thì phụ nữ mới được giải phóng.
          Những luận điểm trên đây của chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng vào điều kiện Việt Nam trở thành nội dung­ tư tưởng chính trị của các tổ chức tiền thân những năm 1928 - 1929 và các đoàn thể quần chúng. Tư­ tư­ởng ấy thâm nhập vào các phong trào của công nhân, nông dân, học sinh, buôn bán nhỏ đã trở thành động lực tinh thần cổ vũ các phong trào ấy tiến lên mạnh mẽ. Từ đấy, phụ nữ Việt Nam cùng với toàn thể dân tộc đã có phư­ơng h­ướng hoạt động cứu n­ước rõ ràng: Cách mạng giải phóng dân tộc đồng thời giải phóng giai cấp, giải phóng phụ nữ.

 
                                                                                                                                                                                                    Trích “Lịch sử Phong trào phụ nữ Việt Nam” -  Tập 1
                                                                                                                                                                                         www.haugiang.gov.vn
 
  VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
 
              Có một câu danh ngôn nổi tiếng: “Phụ nữ làm cho cách xử thế ở đời được trau chuốt và khiến người ta chuộng sự lễ độ. Họ là thầy dạy chân chính về mĩ quan và là người khích lệ mọi hi sinh. Hiếm có người đàn ông nào yêu thương họ mà lại là người man rợ” (G. Legouve).
            Lịch sử loài người từ trước đến nay đã ghi nhận phụ nữ bao giờ cũng có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội. Đối với xã hội, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người. Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội góp phần sáng tạo nên nền văn hoá nhân loại và là lực lượng không thể thiếu trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại. Đối với gia đình, phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu, là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống và giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình. Bất kỳ ở thời đại nào, quốc gia nào, dân tộc nào sự ảnh hưởng của người phụ nữ cũng có sức lan tỏa rộng lớn và thẩm thấu vào từng tế bào của xã hội tạo nên nó, nuôi sống nó.
               Ở Việt Nam, mặc dù chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nhưng do những điều kiện tự nhiên, đặc điểm về kinh tế và xã hội quy định nên vai trò phụ nữ luôn được đề cao. Trước hết là một quốc gia nông nghiệp lúa nước cho phép phụ nữ tham gia vào mọi khâu trong quá trình sản xuất, các truyền thuyết dân gian về “bà mẹ lúa” cùng với tín ngưỡng dân gian thờ nữ thần còn khá phổ biến cho tới tận ngày nay đã phản ánh công lao của phụ nữ trong việc phát minh ra nghề nông cũng như vai trò quan trọng của họ trong sản xuất nông nghiệp. Một đặc điểm khác là lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam cũng là lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm và làm thủy lợi đây là hai nhân tố cơ bản tạo nên sự cố kết cộng đồng và là điều kiện thúc đẩy nhà nước hình thành sớm ở Việt Nam thì đó cũng chính là nguyên nhân làm cho phụ nữ Việt Nam phải gánh vác thêm nhiều trách nhiệm đối với gia đình và làng xóm. Đó là khi nam giới thường xuyên phải vắng nhà vì bị huy động đi phu làm thuỷ lợi và đi lính bảo vệ tổ quốc thì phụ nữ phải đảm đang gánh vác mọi việc từ lao động sản xuất ngoài đồng ruộng cho tới nuôi dạy con cái, chăm sóc cha mẹ già… Không nhũng thế, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Ngay từ những buổi đầu lập nước, khi gặp nạn ngoại bang xâm lược, bà Trưng, bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi quân thù.  Ngoài ra vai trò của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử còn thể hiện ở chỗ Việt Nam là một nước nông nghiệp nhưng thu nhập từ nghề nông lại rất bấp bênh bởi thiên tai thường xuyên xảy ra. Không những thế đất đai ít, dân số ngày càng tăng, thu nhập ít ỏi từ nghề nông không đủ cho người nông dân trang trải gánh nặng tô thuế và nuôi sống gia đình họ. Vì vậy người nông dân buộc phải làm thêm nhiều nghề phụ và phát triển buôn bán nhỏ để đảm bảo cuộc sống. Những công việc này phần lớn cũng do phụ nữ đảm nhiệm. Phụ nữ tham gia vào mọi hoạt động sản xuất cũng như hoạt động buôn bán trong xã hội.
            Trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nướcg, phụ nữ Việt Nam tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực như: tham gia quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệ nạn xã hội; thúc đẩy hoạt động đối ngoại nhân dân… Ngày càng có nhiều người trở thành chính trị gia, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng động.  Có thể nói, vai trò của phụ nữ Việt Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc và có những đóng góp quan trọng trong thành tựu của cách mạng Việt Nam.
               Chỉ cần điểm qua một vài con số, phụ nữ Việt Nam chiếm hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội. Hiện có tới 33,1% đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) - cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới; số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20%.
              Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69%. Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ước tính tới gần 30%. Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế, và dịch vụ. Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế. Nếu tính tổng số giờ làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới.
             Đây là những con số sinh động, là bằng chứng chứng minh hiệu quả của những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển.
              Trong bài phát biểu tại buổi tọa đàm “Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ XXI” do Quỹ Phát triển Phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM và Hội Phụ nữ Việt Nam tổ chức dưới sự hỗ trợ của các tổ chức Liên hợp quốc tại Việt Nam, Chủ tịch Hội Phụ nữ Việt Nam Hà Thị Khiết đã tôn vinh người phụ nữ Việt Nam: “Trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp tích cực của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam. Là một lực lượng lao động xã hội đông đảo, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thích ứng với sự hội nhập và phát triển theo xu thế chung của nhân loại”.
              Bên cạnh vai trò quan trọng đó trong gia đình, phụ nữ Việt Nam có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của gia đình. Là người vợ hiền, họ luôn hiểu chồng, sẵn sàng chia sẻ những ngọt bùi cũng như những đắng cay cùng chồng, khiến người chồng luôn cảm thấy yên tâm trong cuộc sống, từ đó họ có thể đóng góp nhiều hơn cho xã hội. Không chỉ chăm sóc giúp đỡ chồng trong gia đình, người vợ còn đưa ra những lời khuyên thiết thực giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thành công trong sự nghiệp của chồng. Là những người mẹ hết lòng vì con cái, họ thực sự là những tấm gương cho con cái noi theo. Người mẹ ngày nay còn là một người bạn lớn luôn ở bên con để hướng dẫn, động viên kịp thời. Bất cứ ai trong chúng ta đều có thể tìm thấy ở những người phụ nữ, người vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm hồn và sự cân bằng bình yên trong cuộc sống. Chính họ đã tiếp sức cho chúng ta vượt qua những khó khăn để sống một cuộc sống hữu ích. Đúng như nhà thơ Victor Hugo đã tùng viết: “Bên cạnh ánh sáng lung linh của các vì sao còn có ánh sáng êm dịu và huyền bí của tâm hồn người phụ nữ”.
              Để tiếp tục và khẳng định và phát huy vai trò của mình, phụ nữ Việt Nam bên cạnh mặt thuận như được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, cơ quan... và sự phát triển kinh tế mang lại bản thân người phụ nữ cần phải cần nỗ lực nhiều mặt: Có tri thức, văn hóa, có ý thức cầu tiến, độc lập, sống có mục đích, có khả năng giao kết thân thiện, có kỹ năng sống: Tự tin, sáng tạo, biết hoạch định kế hoạch, biết đối mặt với áp lực, biết chăm sóc bản thân, nhưng đồng thời với nó là những thử thách họ cần phải vượt qua.
 
                                                                                                                                                                                                                            Nguyễn Thị Thủy

 

 
Vai trò phụ nữ trong cuộc sống hiện đại
 
         Đời sống của mỗi cá nhân luôn được bắt đầu trước hết từ phạm vi gia đình và suốt cuộc đời họ, gia đình là môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng. Nếu gia đình được coi là tế bào của xã hội thì người phụ nữ được coi là hạt nhân của tế bào này. Đồng thời, gia đình là nơi thể hiện thực chất sự bình đẳng và nâng cao địa vị của người phụ nữ.
          Tuy vậy, đã có một thời chúng ta có quan niệm sai lầm đánh giá không đúng vị trí của gia đình trong sự phát triển của xã hội. Chúng ta chỉ tập trung vào giải quyết những vấn đề xã hội nói chung còn những vấn đề gia đình ngày càng trở nên nhỏ bé. Nói đến giải phóng phụ nữ, người ta dường như quên mất rằng, gánh nặng gia đình còn đang đè nặng lên vai các bà, các người vợ.
          Người phụ nữ chịu sự tác động của của môi trường xã hội và ngược lại, người phụ nữ cũng tác động tới sự vận động của xã hội. Sự tác động của xã hội đối với phụ nữ bao gồm cả hai mặt: tích cực và tiêu cực. Người phụ nữ của thời hiện đại càng không thể tách rời với thực tế gia đình và xã hội. Bởi chính tại hai môi trường này, người phụ nữ mới thể hiện, thực hiện được những chức năng của mình. Điều cần làm là làm sao để gia đình và xã hội tạo được những điều kiện thuận lợi nhất cho phụ nữ phát huy được khả năng của mình.
Đó là: người phụ nữ có công việc ổn định để đảm bảo cuộc sống, có cơ hội học tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, các đoàn thể, câu lạc bộ, có thời gian hưởng thụ văn hóa, văn nghệ, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp cho bản thân...
          Hiện nay, những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại đã phần nào hỗ trợ người phụ nữ trong công việc nội trợ, giảm bớt sức lao động của người phụ nữ trong gia đình. Song, phụ nữ vẫn là người làm chính công việc nhà, từ việc bếp núc tới việc dạy dỗ con cái, chăm lo đời sống tinh thần cho các thành viên trong gia đình. Cộng với thời gian làm việc ngoài xã hội, quỹ thời gian dành cho việc hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần, việc học tập nâng cao trình độ kiến thức của phụ nữ là rất hiếm hoi, thậm chí ở một số đối tượng phụ nữ như công nhân, buôn bán, quỹ thời gian này gần như không có. Bên cạnh đó, nguy cơ bạo lực gia đình đang là mối đe dọa cho một số không nhỏ phụ nữ. Trong khi đó, ở đâu bạo lực gia đình xuất hiện, ở đó đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ bị tổn thương.
          Để người phụ nữ đảm đương được vai trò của mình, đồng thời phát huy được hết khả năng bản thân để phát triển trong thời hiện đại, yếu tố tự thân của mỗi phụ nữ là rất quan trọng. Chỉ khi nào tính tích cực, chủ động của người phụ nữ được khơi dậy, phụ nữ mới vừa có thể đảm đương tốt công việc ngoài xã hội, vừa duy trì được mối quan hệ gia đình bền chặt, một tổ ấm hạnh phúc.
      Người phụ nữ trong gia đình Việt Nam ngày nay theo số liệu về Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 của Tổng cục Thống kê, dân số nước ta là 86.024.600 người, trong đó nữ giới 43.427.400 người, chiếm 50,48%. Tổng số hộ gia đình có 22.628.167 hộ, trong đó số chủ hộ là nữ tăng lên đáng kể từ 25,2% năm 1999 lên đến 27,1% năm 2009 và ở thành thị có số chủ hộ là nữ cao hơn so với vùng nông thôn.
          Gia đình là một tế bào của xã hội và tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội. Người phụ nữ là người thiết tha nhất với hạnh phúc gia đình, đóng vai trò rất quan trọng giữa gia đình và xã hội trong mọi thời đại.
          Qua các chặng đường lịch sử loài người, vai trò người phụ nữ trong gia đình có những biến đổi.
          Cách mạng tháng Tám thắng lợi, vai trò của phụ nữ được xác nhận đúng với chân giá trị con người của nó. Bác Hồ nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam đều do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm rực rỡ”.
          Nghị quyết số 04/NQ-TW của Bộ Chính trị ra ngày 27/7/1993 đã khẳng định: “Phụ nữ vừa là người công dân, người lao động, vừa là người mẹ và người thầy đầu tiên của con người”; “Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình cần tạo điều kiện để phụ nữ kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ công dân và chức năng người mẹ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”.
           Vai trò quan trọng đó được thể hiện như thế nào?
          Ở việc thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ là người tạo dựng nên nhân cách con người từ trong bụng mẹ, là “tay hòm chìa khoá" là trung tâm các mối quan hệ tình cảm là người tích cực nhất trong gia đình, giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, phong tục tập quán tốt đẹp ở làng, thôn, khu phố...
          Ngày nay, đất nước mở cửa hội nhập quốc tế, kinh tế phát triển, đặc biệt kinh tế hộ gia đình càng có điều kiện phát triển, nhiều doanh nhân làm giàu chính đáng cho gia đình, cho đất nước. Phong trào làm từ thiện ngày càng lan rộng ra nhiều tổ chức, cá nhân… Song ở nơi này, nơi khác còn phát sinh ra những biểu hiện, những hành vi tiêu cực do ảnh hưởng của đồng tiền, vàng, đô-la làm khuynh đảo mọi giá trị đạo đức như con bất hiếu với cha mẹ, tình cảm vợ chồng anh em phai nhạt, tệ nạn cờ bạc, nghiện hút…
          Việc hạn chế, đẩy lùi những tồn tại nêu trên càng đòi hỏi vai trò của người mẹ, người vợ trong gia đình, nhà trường, xã hội rất lớn, đặc biệt người mẹ trực tiếp dẫn con bước qua các cửa ải phi đạo đức và sự ngu dốt, tạo cho con có ý chí, nghị lực vượt khó khăn trong cuộc đời.
           Thiên chức và xã hội đã trao cho phụ nữ phần việc lớn hơn nam giới trong gia đình, đó là việc sinh nở ra con cái để duy trì nòi giống, nội trợ lo lắng từng bữa ăn, giấc ngủ trong nhà, “nhen lên và canh giữ bếp lửa gia đình” tạo nên sự ấm áp, yên vui làm điểm tựa cho chồng, cho con, cho cháu… bằng cái tâm và đức của mình. Vì vậy, Nhà nước ta, các cấp, các ngành luôn luôn chăm lo cho tế bào xã hội - tổ ấm gia đình; động viên, vun đắp tạo điều kiện cho mỗi gia đình kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa.
          Đất nước ta ngày nay được độc lập, tự do, hạnh phúc là nhờ vào hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của cha ông, của Đảng, Bác Hồ vĩ đại, song chúng ta không thể không biết ơn các bà mẹ vĩ đại tạo ra các thế hệ danh nhân, anh hùng của đất nước - từ văn hóa gia đình. Người Việt Nam rất coi trọng cái “Phúc”, ông bà cha mẹ để phúc cho con và cái “Đức” - con nhờ đức mẹ là một sự thực, một chân lý.
           Từ bao đời nay, trong gia đình, người phụ nữ luôn có vai trò rất quan trọng và không thể thiếu. Ảnh hưởng của họ đã tác động đến cuộc sống gia đình, ngày càng trở nên quyết định hơn. Điều này cũng đã được thể hiện trong thơ ca Việt Nam.
          Thơ ca ghi nhận vai trò của người phụ nữ trong việc nuôi dạy con cái, họ là người chăm sóc và giáo dục con chủ yếu trong gia đình. Những đứa con thường gần gũi và chịu ảnh hưởng nhiều từ người mẹ.
          Trong bài “Mẹ,” tác giả Trần Quốc Minh đã viết: “Những ngôi sao thức ngoài kia/ Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con/ Đêm nay con ngủ giấc tròn/ Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”.
           Bên cạnh đó, phụ nữ còn giữ vai trò là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống, giữ lửa, mang lại hơi ấm gia đình. Bằng những cách khác nhau, họ vun vén cho hạnh phúc gia đình, tạo nên dấu ấn trong lòng người chồng.
           Nhà thơ Hữu Loan đã từng hóa thân trong nhân vật người chồng một lòng nhớ về vợ bởi người vợ bé nhỏ ấy luôn chăm chút cho chồng từ những điều nhỏ nhặt nhất: “Đèn khuya/ Bóng nhỏ/ Nàng vá cho chồng tấm áo” (trong bài “Màu tím hoa sim”).
           Người phụ nữ đứng đằng sau, giúp chồng tự tin xông pha ra ngoài xã hội và theo cách nói của người xưa “của chồng công vợ,” hàm ý trong những thành quả của người chồng có rất nhiều đóng góp của vợ.
           Nhà thơ Cầm Vĩnh Ui đã khẳng định tình yêu của người vợ chính là động lực, tiếp sức cho anh vững tay súng chiến đấu cho độc lập tự do của dân tộc: “Tôi càng bắn đúng Tây/ Vì tay có hơi vợ/ Cho tôi đi, đừng sợ/ Tôi không chết được đâu/ Vì vợ tôi lúc nào/ Cũng mong chồng mạnh khỏe… Nếu có được trên tặng/ Cho một cái bằng khen/ Tôi sẽ rọc đôi liền/ Gửi cho vợ một nửa” (bài thơ “Nhớ vợ”).
          Trong ca dao Việt Nam đã có những câu chỉ rõ người phụ nữ góp phần hỗ trợ chồng thành đạt trong cuộc sống. Người vợ đảm đang với công việc trồng trọt, canh cửi nuôi chồng ăn học như: “Em thời canh cửi trong nhà/ Nuôi anh đi học đăng khoa bảng vàng,” hay: “Em là con gái Phụng Tiên/ Bán rau mua bút mua nghiên cho chồng/ Nữa mai chồng chiếm bảng rồng/ Bõ công tắm tưới vun trồng cho rau”.
          Có những lúc người phụ nữ còn phải thay chồng chu tất công việc gia đình. Điều này được nhà thơ Tú Xương phản ánh trong thơ mình. Ông đã mô tả rõ nỗi truân chuyên, vất vả, tần tảo nắng mưa của người phụ nữ khi họ còn có chức năng làm kinh tế, nuôi nấng gia đình không kém, thậm chí hơn cả những đấng mày râu: “Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng/ Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo sèo mặt nước buổi đò đông” (bài thơ “Thương vợ”).
           Bên cạnh đó, người phụ nữ còn như chiếc dây buộc chặt để con thuyền gia đình không bị trôi đi giữa muôn vàn sóng gió. Họ có một quyền năng mạnh mẽ được dựng nên bằng tình yêu, đức hy sinh và sự vị tha. Bởi vậy, mỗi người đàn ông, khi nhắc đến vợ là nghĩ tới một góc trời bình yên và quan trọng nhất của mình để đi đâu cũng nhớ về với… vợ.
         Nhà thơ Nguyễn Duy đã từng viết trong bài “Vợ ơi”: “Khi trong túi có mấy đồng ngọ nguậy/ Ta chạy rông như gì nhỉ - quên đời/ Lúc xơ xác bờm xơm từng sợi tóc/ Đói lả mò về/ Cơm đâu/ Vợ ơi…”.
         Có thể nói, người phụ nữ còn giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình, nhất là những mối quan hệ phức tạp của mẹ chồng, nàng dâu. Gia đình sẽ ấm êm, hạnh phúc khi người phụ nữ biết yêu thương và chăm lo cho các thành viên trong gia đình, trong đó có bố mẹ chồng.
         Nhà thơ Xuân Quỳnh đã khiến hàng ngàn người phải cảm động khi chị viết về mối quan hệ này: “Phải đâu mẹ của riêng anh/ Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi/ Mẹ tuy không đẻ không nuôi/ Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong” (bài thơ "Mẹ của anh").
         Dù mỗi phụ nữ có những đóng góp khác nhau tùy theo hoàn cảnh từng gia đình nhưng họ là những người làm nên nụ cười và niềm hạnh phúc cho mái ấm của họ. Bởi vậy, vắng bóng họ, gia đình trở thành khuyết thiếu, lạnh lẽo như cách nói của nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại: “Anh có em, anh quen có em rồi/ Giờ quạnh vắng, ngôi nhà vô nghĩa quá/ Chẳng còn biết vì ai mà nhóm lửa/ Anh một mình thức ngủ cũng cô đơn” (trong bài “Yêu nhau là thương nhớ thế này sao”).
              
                                                                                                                                                                                                Tr
n Th Hng - Trung tâm Nghiên cu khoa hc v gia đình và ph n
                                                                                                                                                                                           (www.haugiang.gov.vn)
 
Những bài thơ hay nhất dành cho phụ nữ
 
                 Trong trái tim mỗi người luôn có những phần đặc biệt dành cho người phụ nữ của cuộc đời mình. Người đó có thể là Mẹ, là Chị, là Vợ, là Con gái… Đôi lúc lại là một Em cụ thể hay trừu tượng nào đó. Dường như tất cả những người phụ nữ ấy đều mang đến cho chúng ta sự ấm áp, an lành, hạnh phúc khi thành công cũng như lúc thất bại, để ta sống tốt hơn, vững vàng tin tưởng hơn ở cuộc đời  này. Nhân ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, xin trân trọng gửi tới bạn đọc chùm thơ viêt về “nửa quan trọng làm nên thế giới”…
 
                                                                                          VỪA ĐỦ
Em vừa đủ để anh khao khát
Vừa đủ làm cho anh thật là anh
Trời chớm thu vừa đủ nét xanh
Quả chua ấy cũng vừa đủ ngọt

Em vừa đủ để qua thời non nớt
Nét thục hiền vừa đủ chút đành hanh
Trong vững bền vừa đủ sự mong manh
Trong đằm thắm vừa đủ lòng nghi kỵ

Em đàn bà vừa đủ men thi sỹ
Em trang đài vừa đủ nét chân quê

 
Em già dặn vừa đủ điều non bấy
Em tươi vui vừa đủ nét ưu phiền
Em lạnh lùng vừa đủ để thôi miên
Em gìn giữ vừa đủ lòng nổi loạn

Anh khao khát với trái tim lãng mạn
Mong suốt đời vừa đủ để yêu em…
 
                                              Trần Nhương
 
 

 
                                                                                           MẸ CỦA ANH


Phải đâu mẹ của riêng anh 
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi 
Mẹ tuy không đẻ không nuôi 
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong 
Ngày xưa má mẹ cũng hồng 
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau 
Bây giờ tóc mẹ trắng phau 
Để cho mái tóc trên đầu anh đen
 
Đâu con dốc nắng đường quen 
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần 

Thương anh thương cả bước chân 
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao

 


Lời ru mẹ hát thuở nào 
Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh 
Nào là hoa bưởi hoa chanh 
Nào câu quan họ mái đình cây đa 

Xin đừng bắt chước câu ca 
Đi về dối mẹ để mà yêu nhau 
Mẹ không ghét bỏ em đâu 
Yêu anh em đã là dâu trong nhà 

Em xin hát tiếp lời ca 
Ru anh sau nỗi lo âu nhọc nhằn 
Hát tình yêu của chúng mình 
Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng 

Giữa ngàn hoa cỏ núi sông 
Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ 
Chắc chiu từ những ngày xưa 
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em.
                                
                                                    Xuân Quỳnh


 

TRÁI TIM SINH NỞ  
Trái tim có mấy phần buồn
Mấy phần vui sướng nhớ thương mấy phần

Phần yêu em gửi cho anh
Còn phần hy vọng em dành cho con
Mấy phần chờ đợi mỏi mòn
Mẹ em đã nhận lúc còn tuổi xanh

Người xưa nào có phụ tình
Mà sao mẹ chịu một mình khổ đau
Thác ghềnh nước cả, sông sâu
Chống chèo mình mẹ đương đầu bão giông

Buồn lo mẹ giấu bên lòng
Nuôi em trong dạ, mẹ mong từng ngày
Nỗi mình biết ngó ai hay
Bao đêm nước mắt vơi đầy, mẹ ơi
Khi em cất tiếng chào đời
Trái tim mẹ tưởng héo rồi lại tươi
Đời nay mơ ước rộng dài
Trái tim đập tới ngày mai êm đềm

Mẹ cho anh trái tim em
Trái tim yêu, trái ấm mềm anh ơi
Trái tim sinh nở giữa đời
Những con ta lại hát lời mẹ ru

Biếc xanh là sắc mùa thu
Vàng tươi là lúa, mịt mù là mây
Ngày đêm sớm tối đổi thay
Trái tim vẫn một bầu đầy đỏ tươi

Dẫu khi tắt nghỉ cuộc đời
Trái tim mẹ giữa đất trời còn yêu.
 
                                                                                                                      Lâm Thị Mỹ Dạ
 
 
 
                                                                                             TÔI RU CON GÁI TÔI


À ơi con ngủ cho ngon
Đắp chăn rồi bố mắc màn cho con
Nửa đời nước nước non non
Con vừa một tuổi, bố tròn bốn mươi

Nửa đời đi ngược về xuôi
Đêm nay bố ngắm con cười trong mơ
Môi hồng, răng trắng, tóc tơ
Bố cho máu đỏ, mẹ cho hình hài

Giời cho tính nết sau này
Cầu cho con những khéo tay, dịu dàng
Trong đêm con thở nhẹ nhàng,
Cầu cho con khỏi bần hàn mai sau

À ơi con ngủ cho lâu,
Cầu cho con chẳng một câu lụy người
À ơi thân gái ở đời,
Những nơi tục lụy con thời tránh xa.

"Thiện căn ở tại lòng ta"
Mạnh hơn lẽ quỷ, lời ma dọc đường
À ơi thương đến là thương
Cầu cho thánh thiện dẫn đường con đi

Đừng ham ngũ sắc làm chi,
Trời xanh muôn thuở có gì cũ đâu.
Đò đầy, phá rộng, sông sâu
Có qua thì lúc bạc đầu hãy qua

Yêu thơ cùng với yêu hoa
Cũng đừng yêu quá như là bố yêu
Ở nhà biết vá, biết thêu
Ra đường kẻ ghẹo người trêu mặc người

À ơi thân gởi ở đời
Cổ kim đâu cũng quý người thủy chung
Câu rằng, chị ngã em nâng
Là qua hết được mọi vùng khó qua

Đi cùng con lúc tuổi hoa,
Đời người ngắn lắm, bố già đến nơi.
Nay mai giời gọi lên giời
Cũng là đã có mấy lời cho con

À ơi máu đỏ như son,
Mai sau con lớn con còn nhớ chăng?
 
                                            Đỗ Trung Lai


 
                                                                              BÀN TAY EM
Gia tài em chỉ có bàn tay, 
Em trao tặng cho anh từ ngày ấy, 
Những năm tháng cùng nhau anh chỉ thấy 
Quá khứ dài là mái tóc em đen. 

Vui, buồn trong tiếng nói, nụ cười em,
Qua gương mặt anh hiểu điều lo lắng, 
Qua ánh mắt anh hiểu điều mong ngóng, 
Anh nghĩ gì khi nhìn xuống bàn tay? 

Bàn tay em ngón chẳng thon dài, 
Vết chai cũ, đường gân xanh vất vả. 
Em đánh chắt, chơi thuyền thuở nhỏ, 
Hái rau dền, rau rệu nấu canh, 
Tập vá may, tết tóc một mình, 
Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ. 
Đường tít tắp, không gian như bể, 
Anh chờ em, cho em vịn bàn tay 
Trong tay anh, tay của em đây 
Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ.  
Trời mưa lạnh, tay em khép cửa, 
Em phơi mền, vá áo cho anh. 
Tay cắm hoa, tay để treo tranh, 
Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc. 

Năm tháng đi qua, mái đầu cực nhọc, 
Tay em dừng trên vầng trán lo âu. 
Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau 
Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngã. 

Khi anh vắng, bàn tay em biết nhớ 
Lấy thời gian đan thành áo mong chờ. 
Lấy thời gian em viết những dòng thơ 
Để thấy được chúng mình không cách trở. 

Bàn tay em, gia tài bé nhỏ, 
Em trao anh cùng với cuộc đời em.
 
 
                                                      Xuân Quỳnh
 
                                                                                                                                                                                                                (www.vanvn.net)

Tác giả bài viết: Thúy Hồng (sưu tầm)

Tổng số điểm của bài viết là: 16 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn