14:02 EDT Thứ bảy, 19/09/2020
"Sách là cửa ngõ dẫn đến tri thức" -  Tuyên ngôn UNESCO       "Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" -  V.I Lênin        "Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học ở lẫn nhau và học ở dân" - Hồ Chí Minh      

Menu

Đăng nhập thành viên

Liên kết thư viện

Thăm dò ý kiến

Bạn biết website thư viện tỉnh Sơn La từ nguồn nào?

Qua báo chí trung ương

Qua mạng internet

Qua bạn bè, người thân

Tất cả các ý kiến trên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 38

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 37


Hôm nayHôm nay : 11046

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 201095

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8570499

Trang nhất » Tin Tức - Sự Kiện » Bạn có biết?

 
Phòng chống dịch virut nCoV
 

KỶ NIỆM 123 NĂM NGÀY SINH CỦA BÁC

Thứ sáu - 17/05/2013 05:42
 
“Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân, cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam...”. Cuộc đời 79 mùa xuân tươi sáng, Bác đã cống hiến trọn vẹn cho dân, cho nước. Bác vui với niềm vui chung của dân tộc, Bác đau khi nhìn thấy nhân dân lầm than, nước mất, nhà tan… Vì vậy, sinh thời, cứ đến dịp 19/5, kỷ niệm ngày sinh của mình, Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức linh đình vì Người sợ tốn thời giờ, tiền bạc của nhân dân trong lúc đời sống và cuộc chiến đấu của nhân dân ta còn nhiều khó khăn, gian khổ.
Trên cương vị là Chủ tịch nước, hàng năm, vào ngày sinh của mình, Bác thường đi làm việc hoặc đến thăm hỏi một số nơi để tránh những nghi lễ phiền phức, tốn kém. Có năm, vào dịp ngày sinh của Bác, Người sang công tác tại Trung Quốc. Ở đây, các đồng chí nước bạn biết ngày sinh của Bác nên chuẩn bị chúc thọ. Thấy vậy, Người ân cần nói với cán bộ phụ trách nhà nghỉ: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ trong nước. Vì vậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ tôi ở đây”. Vào một dịp sinh nhật năm khác, Bác sang Trung Quốc với ý nghĩa như Người đã viết trong thư gửi bà Ðặng Dĩnh Siêu - Cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn giản, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, tránh “tặng quà”.  
Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, có lần Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc vào đúng dịp sinh nhật của Người. Trước khi đi, Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ ở nhà đánh bắt cá tại ao cá mà Người vẫn hàng ngày chăm sóc, biếu các cụ già, các cháu bé, các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước và anh chị em trong cơ quan hàng ngày vẫn phục vụ, chăm sóc Bác để cải thiện bữa ăn. Việc làm của Người vừa thể hiện sự quan tâm, chăm lo đời sống đối với mọi người, vừa là để cảm ơn mọi người đã tận tụy công tác, chăm lo cuộc sống hàng ngày cho Bác.  
Mỗi dịp sinh nhật, thay việc tổ chức tiệc chúc thọ linh đình, tặng quà, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan đoàn thể trong nước và bè bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết. Đặc biệt, Người còn làm thơ nói về tuổi tác của mình thay những lời cảm tạ. Mỗi bức thư, mỗi dòng thơ của Bác Hồ tuy nói về ngày sinh của mình, nhưng lại là tình cảm, trách nhiệm của Người đối với non sông đất nước, đồng bào, đồng chí, cao hơn là nguyên tắc sống của một lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam suốt đời “Trung với Ðảng, hiếu với dân”; đồng thời, thể hiện đường lối lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam về “thực hành tiết kiệm”, chống xa hoa, lãng phí trước hoàn cảnh đất nước còn không ít khó khăn, thiếu thốn! Năm 1965, nhân dịp sinh nhật lần thứ 75, trong tài liệu “Tuyệt đối bí mật” của mình, lần đầu tiên Bác viết: “Năm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe mạnh. Tuy vậy, tôi cũng là lớp người “xưa nay hiếm”… tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột”. Tài liệu này được Bác bắt đầu viết vào ngày 15/5/1965, có sự chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.  
Ba năm sau, tình trạng sức khỏe của Bác giảm sút! Người đã nhiều lần sửa đi sửa lại và đặt bút viết câu mở đầu vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để gửi lại cho đời sau vào lúc 9h ngày 10/5/1968: “Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây…”. Vì vậy, sinh nhật lần thứ 78 của mình, Bác không “vắng nhà” như những năm trước mà dành tất cả thời gian, tập trung suy nghĩ, sửa chữa bản “Di chúc” - “tài sản vô giá” của Người để lại cho dân tộc Việt Nam. Năm đó, Bác viết thêm vào “tài sản” của mình một số nội dung cụ thể, căn dặn những việc phải làm ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi là hàn gắn vết thương chiến tranh, chỉnh đốn Ðảng; chăm lo đời sống của nhân dân… Những lời căn dặn, chỉ dẫn thiêng liêng và tình cảm thiết tha của Người đã trở thành mệnh lệnh trái tim đối với mỗi người dân Việt Nam không chỉ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà còn là cương lĩnh hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc hiện nay. 
Sinh nhật lần thứ 78, tuy Bác không đi công tác xa như những năm trước, nhưng buổi tối ngày 18/5/1968, Bác lên nhà nghỉ ở hồ Tây. Trưa ngày 19/5, Bác và một số anh em phục vụ, lái xe, bảo vệ cùng ăn một bữa cơm thân mật nhân ngày sinh của Người. Cũng nhân sinh nhật lần thứ 78, sau khi dự khai mạc Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa III, ngày 20/5/1968, bằng những lời lẽ chân tình, mộc mạc, kèm theo bốn câu thơ chan chứa tình cảm, thể hiện khí phách của Người trước toàn dân tộc: “Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thế thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ này:
Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn
Tiến bước! Ta cùng con em ta”…
Lời thơ như tiếp thêm sức mạnh tinh thần, cổ vũ, động viên toàn dân tộc tiếp tục “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Câu kết của bài thơ như lời hứa danh dự của Bác trước dân tộc: Bác luôn sát cánh, tiến bước cùng dân tộc Việt Nam không chỉ đến ngày non sông thu về một mối mà cho cả đến tận những năm tháng bây giờ, cả nước đang tiếp tục tiến bước trên con đường dựng xây đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.  
Mỗi dịp sinh nhật của Người luôn là một bài học quý giá cho chúng ta trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào của đất nước. Sinh nhật của Người giản dị, thanh cao như chính con người Bác vậy! Sinh nhật là dịp để Người bày tỏ tình cảm bao la của mình đối với toàn dân tộc. Tình cảm của Người được nhà thơ Tố Hữu khắc họa trong bài “Theo chân Bác”: “Như đỉnh non cao tự giấu mình/ Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh”. Sự từ chối lễ nghi phiền phức của vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Ðảng trong những dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện sự khiêm tốn, giản dị mà cao thượng biết bao! Đó là bản chất của người cách mạng chân chính - người ‘‘đầy tớ” trung thành của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Người trở nên cao đẹp, vĩ đại. Tấm lòng và đạo đức cách mạng sáng ngời của Người mãi mãi là tấm gương sáng để các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.  
Năm nay, kỷ niệm sinh nhật 123 năm của Bác đúng vào dịp toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thực hiện Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay”. Ôn lại những bài học quý giá, những việc làm giản dị, trong sáng qua mỗi dịp kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là dịp để chúng ta tu chỉnh lại chính mình khi soi chung tấm gương lớn! Mong sao khi soi vào tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những đồng chí lãnh đạo, chủ chốt càng gương mẫu học tập và làm theo Người, nhanh chóng khắc phục sự suy thoái đạo đức, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền; qua đó, công khai, lên tiếng đấu tranh với tệ tham nhũng, quan liêu, xa hoa, lãng phí, cục bộ địa phương...  
Sinh nhật Bác cũng là dịp để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phát động nhiều phong trào thi đua lao động, sản xuất, học tập, công tác, lập nhiều thành tích xuất sắc mừng Ngày sinh Bác Hồ kính yêu. Đây không chỉ là dịp để mỗi chúng ta bày tỏ tình cảm, lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Bác mà còn là dịp để dân tộc Việt Nam báo công với Bác về những thành tích cả nước đạt được và quyết tâm sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, sai lầm để tiếp tục đưa đất nước Việt Nam sánh vai các cường quốc năm châu như sinh thời Người hằng mong.
                                                                                        www.bqllang.gov.vn
 
 

 
 
 
Tháng Năm nhớ về những lần sinh nhật của Bác Hồ
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời để đấu tranh vì độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Trọn đời vì nước vì dân, nhưng những dịp sinh nhật của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, người thầy của cách mạng Việt Nam lại rất đỗi giản dị.
Sáng 19/5/1946, tại Bắc Bộ phủ (Hà Nội), lần đầu tiên tổ chức kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ. Người đã tiếp đại biểu thiếu nhi Thủ đô, tự vệ, hướng đạo sinh và các đại biểu Nam bộ đến chúc thọ Người. Trong buổi sinh nhật ấy, đáp lại lòng kính mến của đồng bào, Bác nói: Tôi chưa xứng đáng với sự săn sóc của đồng bào. Vì tôi hãy còn là một thanh niên, tuổi 56 chưa đáng được đồng bào chúc thọ. Chỉ vì một nhà báo nào đó biết đến ngày sinh của tôi mà đem ra làm rộn đồng bào. Từ trước đến nay tôi đã là người của đồng bào, thì từ nay về sau tôi vẫn thuộc về đồng bào. Tôi quyết giữ lòng trung thành với Tổ quốc...
Tại Việt Bắc năm 1947, nhân ngày sinh, các đồng chí phục vụ chuẩn bị sẵn một bó hoa rừng mang đến chúc thọ Bác. Người rất xúc động khi nhận được bó hoa này và đề nghị dành những bông hoa đó để đi viếng mộ đồng chí Lộc (người được phân công lo việc ăn uống cho Bác) vừa mới mất vì bị bệnh sốt rét.
Năm 1948, Bác đã viết thư cảm ơn Quốc hội, Chính phủ, đoàn thể, bộ đội, đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngoài đã gửi thư chúc mừng nhân ngày sinh của Người. Bức thư có đoạn: "Đồng bào yêu mến tôi, chúc thọ tôi, tôi biết lấy gì, nói gì để báo đáp lại lòng thân ái ấy? Tôi chỉ có một cách báo đáp là kiên quyết cùng đồng bào chịu cực khổ, quyết cùng đồng bào kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn...".
Do không muốn tổ chức lễ mừng sinh nhật của mình, trước ngày 19/5/1948, Người đã làm bài thơ "Không đề” trả lời một số cán bộ đề nghị tổ chức sinh nhật Bác:
Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà,
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già.
Chờ cho kháng chiến thành công đã,
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta.
Vào dịp sinh nhật lần thứ 63 (năm 1953), Bác đã bí mật sang thăm lớp mẫu giáo nội trú đầu tiên của quân đội ở Định Hóa, Thái Nguyên, vừa để tránh việc chúc tụng, vừa để thăm các cháu nhi đồng. Nhắc lại sự kiện này, cô Phan Thanh Hòa, là giáo viên của lớp khi đó - người vinh dự 5 lần được gặp Bác, không giấu nổi xúc động: “8 giờ sáng, tôi đang dán bích báo để mừng sinh nhật Bác lần thứ 63, tự nhiên nghe thấy tiếng Người hỏi đằng sau: "Cô đang làm gì đấy"? Tôi ngoảnh lại, bàng hoàng: "Cháu thưa Bác, cháu đang dán bích báo”. Tôi kính mời Bác vào trong trường, lúc ấy, cả trường mới biết, ùa ra đón Bác. Người ân cần thăm hỏi, động viên các nhà giáo và các cháu học sinh. 59 năm qua, những điều Bác dạy, tôi không bao giờ quên được”.
Theo Tiến sĩ Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh: “Những dịp sinh nhật của mình, Bác thường hay cùng các đồng chí giúp việc đi ra khỏi cơ quan Chủ tịch phủ. Người đi thăm nông dân, thăm các di tích lịch sử văn hóa, các danh lam thắng cảnh bởi vì những ngày đó, Người muốn tránh một sự tổ chức chúc thọ linh đình, tốn kém và lãng phí. Những ngày đó thì chúng ta có phong trào là cả nước viết thư về chúc thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, có những năm Người đã tự tay thảo thư cám ơn tất cả nhân dân, cán bộ, bộ đội chiến sĩ cả nước đã gửi thư, điện mừng chúc thọ Người”.
Khoảng thời gian từ tháng 12/1954 đến tháng 9/1969, Bác Hồ sống và làm việc tại khu Phủ Chủ tịch. Nhưng cứ đúng vào ngày 19/5, Người thường tìm cách đi một nơi khác để tránh những nghi lễ phiền phức, tốn kém. Và lần đầu tiên Bác thực hiện việc đó là ngày 19/5/1955, Bác đi thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm - Hà Nội. Người ân cần thăm hỏi tình hình đời sống, công việc của anh chị em công nhân Nhà máy Xe lửa và căn dặn phải đoàn kết chặt chẽ, thi đua lao động sản xuất. Vào những dịp sinh nhật khác, Bác thường dành thời gian đến thăm bà con nông dân, thăm các danh lam thắng cảnh hay thảo thư cám ơn cán bộ, chiến sĩ cả nước đã chúc thọ Người.
Là vị lãnh tụ của Đảng, với tầm nhìn xa, trông rộng, Bác căn dặn việc Đảng, việc nước, việc dân phòng trước khi Người đi xa. Dịp kỷ niệm 75 năm ngày sinh, đúng 9 giờ sáng ngày 10/5/1965, Bác đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” - “Bản Di chúc” để dặn lại cho muôn đời con cháu mai sau. Năm 1968, vào ngày sinh nhật 19/5, Bác xem và bổ sung “Bản Di chúc”.
Một ngày sau, tại lễ khai mạc kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa III (20/5/1968), sau khi nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc báo cáo và lời chúc thọ, Bác nói: ..."Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy tôi có bài thơ thế này:
“Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước, ta cùng con em ta".
Đến năm 1969, trọn vẹn ngày sinh 19/5, Bác ở lại Phủ Chủ tịch. Sau khi tiếp các cháu là con của các đồng chí phục vụ đến chúc thọ, Bác xem kỹ lại toàn bộ các bản viết Di chúc của Người vào các năm 1965, 1968 và 1969. Hồi ký của đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng giúp việc cho Bác viết: “… ngày 19/5 cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác Hồ, đã diễn ra thật ấm cúng thân tình. Bác ngồi ở đầu bàn, Phan Thị Quyên ngồi bên trái Bác, Nguyễn Thị Châu ngồi bên phải Bác, cạnh anh Phạm Văn Đồng. Thế là gần đủ ba thế hệ, có cả miền Bắc, miền Trung, miền Nam”. Có ai ngờ rằng, đó là ngày kỷ niệm sinh nhật cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác Hồ.
Cho đến lúc Người đi xa, mặc dù trên ngực không một tấm huân chương, nhưng tấm huân chương cao quý nhất mà nhân dân cả nước trao tặng cho Người là niềm tin tuyệt đối, là tình cảm kính yêu vô bờ bến, là sự tự hào mỗi khi người dân Việt Nam nhắc đến vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc: Chủ tịch Hồ Chí Minh.
                                                                                                           baotintuc.vn
—–      —–    —–      —–
 
 
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, HIỆN THÂN ĐẠO ĐỨC
 – VĂN MINH CỦA ĐẢNG VÀ DÂN TỘC TA
 
Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đó cũng là thắng lợi của ý chí, đạo đức, văn minh Việt Nam trước vũ khí, kỹ thuật và sự dã man, tàn bạo của kẻ thù
Công lao đó trước hết thuộc về nhân dân Việt Nam kiên cường, bất khuất, thế hệ nối tiếp thế hệ, đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh chiến đấu liên tục, ròng rã 30 năm trời dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng và với sự cổ vũ kỳ diệu của tư tưởng - đạo đức Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, tạo cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng một nền văn hóa mới và một nền đạo đức mới Việt Nam. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã cổ vũ, động viên các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Nam để tạo ra một xã hội nhân cách mới. Xã hội nhân cách đó được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước của dân tộc kết hợp chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, từ đó đã sản sinh ra hàng triệu, hàng triệu người con anh hùng của đất nước - những chiến sĩ cách mạng kiểu mới của thời đại Hồ Chí Minh: Trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư... Những cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng ta đã gương mẫu đi tiên phong trong cuộc đấu tranh anh hùng đó và chính họ đã cùng với nhân dân làm nên hiện tượng "kỳ diệu Việt Nam" trong thế kỷ 20, tiêu biểu cho lương tâm, vinh dự và phẩm giá con người.
Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới, đạo đức mới trong lịch sử dân tộc. Người đã làm rạng rỡ Tổ quốc ta, nhân dân ta, truyền thống quang vinh của Đảng ta. Người nói: "Đảng ta là đạo đức, là văn minh" và chính Người là hiện thân của sự thống nhất đạo đức - văn minh" đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những để lại cho chúng ta một sự nghiệp cách mạng vẻ vang chưa từng có trong lịch sử dân tộc, Người còn để lại cho chúng ta một di sản vĩ đại, đó là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách của dân tộc và của loài người.
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân - một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đó đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo để làm một người cách mạng, một người công dân tốt hơn.
Vấn đề số một trong đạo đức của một vĩ nhân - cũng như của một người bình thường là vấn đề lý tưởng, vấn đề lẽ sống: Sống cho ai? Sống vì cái gì? "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", đó là lý tưởng, là lẽ sống mà cũng là học thuyết chính trị - đạo đức của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.
Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho Người một ý chí, một nghị lực phi thường để "giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục". Cho đến khi phải từ biệt thế giới này, điều luyến tiếc duy nhất của Người vẫn chỉ là "không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa".
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một bậc đại trí, đại đồng, hy sinh chẳng quản, gian nguy không sờn. Ở những thời điểm then chốt của lịch sử, với tầm nhìn xa trông rộng của một "phượng hoàng đại ngàn", Hồ Chí Minh đã sáng suốt và dũng cảm đi tới những phán quyết lịch sử. Năm 1945, khi thời cơ cách mạng đã đến, Người chỉ thị: "Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập". Vào giữa những năm 60, lợi dụng khó khăn của ta, khi phong trào cộng sản quốc tế có xung đột và chia rẽ nghiêm trọng, đế quốc Mỹ đã ồ ạt đổ hơn nửa triệu quân vào miền Nam Việt Nam và tăng cường cho không quân, hải quân ném bom, bắn phá dữ dội miền Bắc, hòng đưa chúng ta trở lại thời kỳ đồ đá! Trước đó, Người vẫn thể hiện quyết tâm và khí phách của toàn Đảng, toàn dân ta: "Dù nó ném hóa biển cũng phải giải phóng miền Nam cho kỳ được!" (xem báo Nhân Dân ngày 24/5/1970). Thật "hiếm có một nhà lãnh đạo nào, trong những giờ phút thử thách, lại tỏ ra sáng suốt, bình tĩnh, gan dạ, quên mình, kiên nghị và dũng cảm một cách phi thường như vậy".
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của tinh thần: Thắng không kiêu, khó không nản. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô cùng gian khổ: Hai lần ngồi tù, một lần lãnh án tử hình; có giai đoạn hoạt động rất sôi nổi, được đánh giá cao, có giai đoạn bị hiểu lầm, ngộ nhận, lâm vào cảnh "như là sống ở bên lề, ở bên ngoài của Đảng” (Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t.3, tr 90). Vượt qua được thử thách khổ ải, tù đày đã rất khó, nhưng vượt qua được thử thách do bị hiểu lầm, nghi kị còn day dứt hơn nhiều. Để kiên trì chân lý, giữ vững quan điểm độc lập, tự chủ, Người đã bình tĩnh, chủ động vượt qua những năm tháng khó khăn đó. Lê-nin từng nói: Không sợ đói, không sợ chết, chỉ sợ không chiến thắng được phút yếu đuối của bản thân. Trong khó khăn, Người vẫn luôn luôn "tự khuyên mình": Muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải cao. Dù có lúc phải "hóa lệ thành thơ" thì điều đó cũng chỉ vì nhân dân, vì Tổ quốc chứ không phải vì cảnh ngộ cá nhân.
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một lãnh tụ hết lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân, luôn luôn tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, cho nên mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của nhân dân, luôn luôn dựa vào dân, "lấy dân làm gốc". Người giáo dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bởi "nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì".
Để làm tròn trách nhiệm là người đầy tớ trung thành của nhân dân, Người dạy cán bộ phải gần dân, hiểu tâm lý, nguyện vọng của dân, lắng nghe ý kiến của dân, của "những người không quan trọng", không được lên mặt "quan cách mạng", cậy quyền cậy thế, đè đầu cưỡi cổ dân. Mặc dù uy tín rất cao, có sức hấp dẫn rất lớn, được toàn dân suy tôn là "Cha già của dân tộc" nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Người coi việc phải gánh chức Chủ tịch cũng như việc "người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra mặt trận". Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn tự tay viết thư trả lời, cảm ơn một cách thân tình, chu đáo, nêu một tấm gương ứng xử rất văn hóa, đầy khiêm nhường và kính trọng đối với nhân dân.
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực. Bác Hồ là "muôn vàn tình thân yêu" đối với đồng chí, đồng bào. Trong tình yêu thương đó, có chỗ cho mọi người, không quên, không bỏ sót một ai. Trái tim mênh mông của người ôm trọn mọi nỗi đau khổ của nhân dân. Người nói một cách cảm động: "Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng; gộp những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi". Tình thương yêu đó được mở rộng đối với nhân dân lao động toàn thế giới. Đối với những người lầm lạc, ngay cả đối với những người chống đối hay kẻ thù, Người cũng thể hiện một lòng khoan dung, độ lượng hiếm có. Kẻ thù xâm lược đã gây nên bao tội ác man rợ đối với nhân dân ta, nhưng khi chúng đã thất thế, đầu hàng hay bị bắt, Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải đối xử với chúng một cách khoan hồng, phải làm "cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước".
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Cần kiệm, giản dị, ít lòng ham muốn về vật chất, đó là "tư cách của người cách mạng". Người đề ra và tự mình gương mẫu thực hiện. Cũng như V.I.Lê-nin, Người coi khinh mọi sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng. Một cốt cách giản dị, một sự giản dị vĩ đại. Cuộc đời của Người, từ một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Công-poanh đến khi làm Chủ tịch nước, sống giữa thủ đô Hà Nội, vẫn là một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã. Khách nước ngoài vào thăm nhà sàn của Bác Hồ đã rất xúc động khi được biết Người không hề có một chút của riêng. Đó là một cuộc đời trong sạch, suốt đời thực hành cần kiệm, liêm chính.
Nét nổi bật trong đạo đức Hồ Chí Minh là sự khiêm tốn phi thường. Mặc dù có công lao rất lớn, Người không để ai sùng bái cá nhân mình, mà luôn luôn nêu cao sự nghiệp anh hùng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Người nói: Quần chúng mới là người làm nên lịch sử và lịch sử là lịch sử của chính họ chứ không phảl của một cá nhân anh hùng nào.
Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, "khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người còn là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo".
Sinh thời, Hồ Chí Minh đã viết nhiều về tấm gương đạo đức của V.I.Lê-nin. Rèn luyện theo tấm gương đó, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc và nhân loại một tấm gương trọn vẹn, mười phân vẹn mười. Ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã trở thành "tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự", thành biểu tượng của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức - văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: "Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội? Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó".
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.
                                                                                 Song Thành
                                                                              Viện Hồ Chí Minh
                                                                             www.haugiang.gov.vn

   

Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại

Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã sinh ra nhiều anh hùng giải phóng dân tộc, nhiều người được vinh danh...
Người người nối tiếp nhau, viết lên trang sử vẻ vang cho dân tộc, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng vĩ đại nhất, trang sử Người để lại là trang sử vẻ vang nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc vĩ đại, bởi vì, Người là người Việt Nam đầu tiên đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam, con đường cách mạng vô sản. Người sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước - giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, bao cuộc khởi nghĩa đấu tranh anh dũng, bất khuất giành độc lập và thống nhất Tổ quốc đều lần lượt thất bại. Phong trào cứu nước của nhân dân Việt Nam đứng trước một cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Nhà yêu nước tiền bối Phan Bội Châu đã sớm nhận rõ tư tưởng vĩ đại của người lãnh tụ mới của phong trào cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc, đặt niềm tin vào Nguyễn Ái Quốc. Cụ từng nói với nhiều người khi đến thăm cụ ở Bến Ngự rằng: “… đời hoạt động cách mạng của tôi rốt cuộc là một thất bại lớn. Đó là bởi tuy tôi có lòng mà thực bất tài. Nhưng dân tộc ta thế nào rồi cũng độc lập. Nhất định phải thế. Hiện nay đã có người khác lớn hơn lớp chúng tôi nhiều, đứng ra đảm đương công việc để làm tròn cái việc mà chúng tôi không làm xong. Ông có nghe tiếng ông Nguyễn Ái Quốc không? Ông ấy còn thì nước ta nhất định sẽ độc lập. Vì ông ấy giỏi.”
Đúng như đánh giá của Phan Bội Châu, chính lúc đó, bằng sự mẫn cảm chính trị và qua tìm hiểu thực tiễn cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua hạn chế của các bậc tiền bối, Người là người đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đỉnh cao của văn hóa nhân loại, tìm ra con đường cứu nước cho cách mạng Việt Nam - cách mạng vô sản, đó là sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước nồng nàn với chủ nghĩa quốc tế chân chính, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Từ đó, Người mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng mở ra con đường giải phóng cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Không chỉ kế thừa, vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn góp phần phát triển học thuyết của V.I. Lênin về cách mạng thuộc địa, làm sáng tỏ mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa; đưa ra luận điểm về tính chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và khẳng định sự nghiệp đấu tranh giải phóng của nhân dân thuộc địa chỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân các nước thuộc địa. Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm: Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể tiến hành trước, và thắng lợi của nó sẽ “giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.
Đối với cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa Đảng lên vị trí đảng cầm quyền. Từ ngày Đảng ra đời, Người luôn chăm lo từng bước trưởng thành của Đảng, rèn luyện Đảng thành đội tiên phong vững vàng, sáng suốt của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất. Đó là khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc, tạo ra sức mạnh vô địch vượt qua mọi thử thách khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công". Đây chính là tư tưởng chiến lược xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Mặt trận là nhân tố quan trọng bảo đảm cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam thành một đội quân cách mạng "Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".
Những nhân tố quyết định trên đảm bảo vững chắc cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mở đầu là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, khẳng định vị trí của Việt Nam trên bản đồ thế giới, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và tự do, sánh vai cùng các dân tộc đấu tranh không mệt mỏi cho một xã hội công bằng, tiến bộ, văn minh.
Tiếp đó, những thắng lợi vĩ đại, vang dội khắp năm châu của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, đã đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, là người anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc. Công lao to lớn và sự nghiệp vĩ đại của Người gắn liền với lịch sử quang vinh của Đảng Cộng sản Việt Nam, với những trang hào hùng nhất trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người anh hùng dân tộc vĩ đại, đã đi vào lịch sử và sống mãi với muôn đời sau.
Vượt lên trên tất cả các bậc tiền bối, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là “biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”, mà Người còn có “sự đóng góp quan trọng và nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật”. Người là “kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”, Người đã được ghi danh vào danh sách “các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thế giới” như Nghị quyết 24C/18.65, phiên họp Đại hội đồng UNESCO, khóa họp lần thứ 24, tại Pari đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và khuyến nghị các nước thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người.
Thật khó mà tách rời Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc với Hồ Chí Minh - nhà văn hóa kiệt xuất. Bởi vì, lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, với vinh dự lớn là một nước nhỏ đã đánh thắng hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng nhân dân khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, giành lại cho nhân dân Việt Nam những quyền sống của con người, một cuộc sống có văn hóa, đó không chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà là cuộc đấu tranh không mệt mỏi của Người cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, chính là sự nghiệp văn hóa cao cả nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhà văn hóa kiệt xuất, kiến trúc sư của nền văn hóa mới Việt Nam, Người sớm nhận thấy vai trò và sức mạnh của văn hóa, đưa văn hóa vào chiến lược phát triển của đất nước. Để xây dựng một nền văn hóa mới, ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc là phát triển văn hóa, xóa mù chữ, nâng cao dân trí, phát triển giáo dục. Người nói: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Do vậy, phải chống giặc dốt đi đôi với chống giặc đói và chống giặc ngoại xâm, trước hết phải là xóa nạn mù chữ, để tất cả mọi người Việt Nam đều phải biết đọc, biết viết “Mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quyền hạn của mình, phải có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn phát động phong trào xây dựng đời sống mới, để xây dựng một nền đạo đức mới, con người mới; chống những thói quen xấu và hủ tục lạc hậu; phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân. Nền văn hóa mới mà Người chủ trương xây dựng là một nền văn hóa luôn hướng con người tới chân, thiện, mỹ, tới hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc, tới tình hữu ái giữa người với người.
Trên hành trình vạn dặm đi tìm chân lý, đến nhiều nước, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, Người đã học tập và làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn văn hóa phương Đông và phương Tây. Người đã từng hấp thụ văn hóa nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hóa Pháp. Người trân trọng mọi giá trị văn hóa nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra chủ trương kế thừa truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc phải đi đôi với việc học tập và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại: “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ ”.
Là linh hồn của công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời xúc tiến công cuộc xây dựng nền văn hóa mới nước nhà với các tiêu chí: Dân tộc, khoa học và đại chúng. Người đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hóa của thế giới. Đi trước thời gian, nhiều chủ trương văn hóa được Người đề ra rất sớm - từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ XX, như: Xóa mù chữ, trồng cây, trồng người, phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái... đến thế kỷ XXI này đã trở thành những vấn đề nóng, cấp bách, mang tính toàn cầu, mà nhân loại bắt buộc phải quan tâm, giải quyết.
Những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa đang là kim chỉ nam cho chúng ta trong việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời không ngừng mở rộng sự giao lưu văn hóa với thế giới.
Một trong những điều kiện giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng, hoạt động văn hóa, tiếp thu tri thức nhân loại, là Người biết nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch. Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại để từ đó mà vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hóa thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam - Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn lớn. Thơ của Người phần lớn viết bằng tiếng Việt, có nhiều bài viết bằng chữ Hán, không chỉ là những những vần thơ tuyên truyền, đuổi giặc, mà thơ của Người còn thể hiện khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hòa bình, cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đậm chất trữ tình, với nghệ thuật uyên bác. Đó là những nội dung chủ yếu làm nên thơ Hồ Chí Minh, với những giá trị nhân văn cao quý, tỏa sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người viết nhiều thể loại: Truyện ngắn, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận,... Ở lĩnh vực nào cũng có những thành công nổi trội. Văn chính luận của Người giàu tri thức văn hóa, giàu tính luận chiến, lập luận chặt chẽ, lý luận sắc sảo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà báo vĩ đại, người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà báo, chỉ nhận mình là “người có duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng: Le Paria (1922); Thanh niên (1925); Việt Nam Độc lập (1941)... Với trên 60 bút danh khác nhau, Người đã viết hàng nghìn bài báo, góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa, hướng tới CNXH, giáo dục về CNXH, xây dựng kinh tế, bồi dưỡng con người mới… “Suốt đời, Hồ Chí Minh là người cầm bút, chiến đấu trên mặt trận văn hóa, báo chí, với một văn phong đa dạng nhiều sắc thái mà điểm nổi bật là tính quần chúng, cách suy nghĩ và diễn đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu vang vọng trong lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao, thúc đẩy những việc làm tốt đẹp, bằng những lời lẽ bình dị giàu hình tượng, nói lên được điều lớn, bằng chữ nhỏ”.
“Văn hóa là sợi dây có khả năng nối liền nhân dân các nước và các dân tộc. Những tinh hoa văn hóa của một dân tộc đều là tài sản chung của nhân loại và ngược lại, những đỉnh cao văn hóa loài người là những của báu không dành cho riêng ai. Sự hiểu biết lẫn nhau, sự học tập và tôn trọng nhau xưa nay đều thể hiện sâu sắc qua văn hóa, nơi tập trung những biểu hiện rực rỡ nhất của tâm huyết và sức sáng tạo của con người”. Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng sự nghiệp hoạt động cách mạng, hoạt động văn hóa của mình, đã là người Việt Nam đầu tiên bắc nhịp cầu hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với các dân tộc trên thế giới.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa và nhà cách mạng thống nhất hữu cơ làm một, tri thức văn hóa chỉ nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động cách mạng. Không những vậy, chính yếu tố văn hóa trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho Người có một sức thu hút mạnh mẽ, một khả năng cảm hóa đặc biệt đối với người xung quanh, ngay cả đối với những người nước ngoài, dù cho từ đâu tới và thuộc hệ tư tưởng nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa lớn còn bởi vì chính bản thân Người, cuộc sống của Người, là hiện thân của nền văn hóa mới Việt Nam, là mẫu mực của con người mới Việt Nam và là đề tài không bao giờ cũ, là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà báo… tạo ra những tuyệt tác, bởi vì, “ngay giữa cuộc đời mình”, Người đã đi vào truyền thuyết, “Cuộc sống của Người là một bài thơ đầy nét anh hùng ca”.
Là một vĩ nhân đã để lại dấu ấn đặc biệt trong thế kỷ XX, từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị (1919), đến khi từ biệt thế giới này (1969), sau đó 10 năm, 20 năm… sự kính trọng, ngưỡng mộ, đánh giá cao của nhân loại đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề thay đổi. Một vài nhận thức của chúng tôi trên đây chỉ là đôi nét phác thảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất mà nhân loại đã ghi nhận. Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, đã và đang được các nhà nghiên cứu tiếp tục khai thác, nhằm phát hiện, tôn vinh những giá trị văn hóa, tư tưởng trong cuộc đời Người cho công cuộc bảo vệ và xây dựng cuộc sống mới hôm nay. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”, Người sẽ sống mãi và đồng hành cùng dân tộc trên con đường “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

                                                                                            www.yenbai.gov.vn

 
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh
          Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn cờ đầu của giải phóng dân tộc. Người đã dẫn dắt triệu triệu người Việt Nam cùng hàng ngàn triệu người nô lệ hơn 100 nước trên thế giới vùng lên giành độc lập tự do, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Người đã làm nên cuộc đảo lộn thế giới chưa từng có từ sau khi chủ nghĩa tư bản lật đổ đế chế La Mã cổ xưa. Người đã vẽ lại bản đồ thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là Danh nhân văn hóa thế kỷ 20.
Tại Pa-ri (Pháp), trong kỳ họp lần thứ 24 từ ngày 20/10 đến ngày 20/11/1987, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã ra Nghị quyết 24C/18.65 công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, đồng thời quyết định kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người. Trong Từ điển “Danh nhân văn hóa thế giới” xuất bản tại Anh và Mỹ, lời nói đầu có nêu: “Thế kỷ 20 có nhiều đảo lộn lớn trong lịch sử nhân loại. Ai làm đảo lộn người đó xứng đáng làm Danh nhân văn hóa”. Trong lĩnh vực Chính trị - xã hội, Từ điển đã dành hai trang 332 - 333 ghi rõ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn cờ đầu của giải phóng dân tộc. Người đã dẫn dắt triệu triệu người Việt Nam cùng hàng ngàn triệu người nô lệ hơn 100 nước trên thế giới vùng lên giành độc lập tự do, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Người đã làm nên cuộc đảo lộn thế giới chưa từng có từ sau khi chủ nghĩa tư bản lật đổ đế chế La Mã cổ xưa. Người đã vẽ lại bản đồ thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là Danh nhân văn hóa thế kỷ 20”.
Cống hiến vĩ đại của Người là tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Người xác định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đó là sự gắn liền chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế chân chính; kết hợp chặt chẽ cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại. Đây là sự phá vỡ bế tắc về đường lối cứu nước trong một thời gian khá dài trong lịch sử nước ta. Tuy nhiên, đó mới chỉ là phương hướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cụ thể hóa đường lối cứu nước ấy. Từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: Chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa hai vòi, một vòi bám vào chính quốc, một vòi bám vào thuộc địa. Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc, phải đồng thời cắt bỏ cả hai cái vòi của nó đi. Tức là phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Người cũng nhấn mạnh các nước thuộc địa cần tăng cường đoàn kết và ủng hộ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chung; đồng thời phải dựa vào sức mình là chính để đấu tranh tự giải phóng mình. Đó là một luận điểm có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn rất quan trọng. Cách mạng nước ta từ những năm 20 của thế kỷ trước đã phát triển dưới ánh sáng của tư tưởng ấy. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là thực tế sinh động chứng minh sự đúng đắn của tư tưởng đó.
Tìm được đường lối cách mạng đúng đắn, Người đã trực tiếp lãnh đạo tuyên truyền, tổ chức, đào tạo và rèn luyện cán bộ. Người viết: “Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực, thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng”. Từ  năm 1921, bằng ngòi bút sắc sảo của mình, Người đã viết nhiều bài đăng trên một số tờ báo của nước Pháp để tố cáo tội ác của thực dân và thức tỉnh nhân dân các nước thuộc địa. Người rất quan tâm đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt, vì “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Ngay từ lớp cán bộ đầu tiên, Người đã chú ý bồi dưỡng “Tư cách người cách mệnh” và tri thức người cách mệnh, tức là chăm lo cả hai mặt: Phẩm chất và năng lực. Về tổ chức, Người xác định: “Trước hết phải có đảng cách mệnh”. Tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội là hạt mầm cho sự ra đời Đảng mang bản chất giai cấp công nhân. Người dày công tập hợp lực lượng cách mạng, xây dựng các tổ chức quần chúng. Đó là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc.
Bác Hồ đòi hỏi lãnh đạo cách mạng là phải nắm được thời cơ. Người ví: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”. Từ năm 1940, nhất là vào tháng 10/1944, trong thư gửi đồng bào toàn quốc, Người dự báo: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh!”. Tháng Tám 1945, khi thời cơ đến, Bác đã cùng với Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa và đã giành được thắng lợi nhanh chóng. Sau Cách mạng tháng Tám, Người lại cùng toàn Đảng, toàn dân đưa hai cuộc kháng chiến anh dũng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đi đến thắng lợi hoàn toàn…
Đồng thời với việc công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Người anh hùng giải phóng dân tộc”, UNESCO còn công nhận Người là nhà văn hóa kiệt xuất. Sở dĩ như vậy là bởi Người có hiểu biết rất sâu rộng. Người đã nghiên cứu, học tập, đọc rất nhiều tác phẩm Đông -Tây, kim - cổ; tiếp thu những tinh hoa của văn minh nhân loại. Người tinh thông lịch sử dân tộc, am hiểu sâu sắc văn hóa dân tộc. Người viết văn, viết báo, làm thơ bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài. Bác đã có nhiều sáng tác thuộc nhiều lĩnh vực: Văn, thơ, kịch, họa… Ở Bác, nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà báo, nhà chính trị, người chiến sĩ... kết hợp bền chặt trong nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Có ý kiến cho rằng: “Sáng tạo văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh có mặt ở nhiều thể loại… Và ở lĩnh vực nào sự sáng tạo đó cũng đạt tới trình độ bậc thầy với tầm nhìn thời đại, vì thế luôn mang tính thời sự và giá trị thực tiễn sâu sắc. Sáng tạo văn hóa của Người thực chất là sự sáng tạo vì cuộc đời và con người, vì hạnh phúc của nhân dân; là làm sao cho mỗi người biết hướng thiện và hoàn lương; biết kết đoàn, chung lưng đẩy lùi cái xấu xa, tàn bạo, phi nhân tính, để cùng nhau xây dựng một đất nước giàu mạnh, một xã hội công bằng, văn minh - một xã hội mà trong đó: “Mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người” và “sống để cho nhau”. Sáng tạo văn hóa của Hồ Chí Minh luôn có mặt chủ thể con người với khát vọng tự do, công lý, hòa bình, ấm no, hạnh phúc… điều đó đã làm nên giá trị nhân văn của một nhân cách lớn”. Vâng, Người đã từng cho rằng, văn hóa là mục đích cuộc sống, giúp con người tồn tại và phát triển: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng chúng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Đi vào từng lĩnh vực cụ thể, ta thấy Người rất quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho tiếng Việt mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng. Bác hết lòng chăm lo phát triển ngành giáo dục, chăm lo sự nghiệp mở mang dân trí, xây dựng “Đời sống mới” hình thành trong nhân dân những phong tục, tập quán mới, những sinh hoạt văn hóa mới. Chính Bác là tấm gương sáng về mối quan hệ mới, tốt đẹp giữa người với người. Ở điểm này, chúng ta nhớ đến lời của nhà thơ Osip Mandelstam viết từ năm 1923, đầu thế kỷ trước: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải là văn hóa châu Âu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Đó là đức hi sinh cao cả, là nghị lực cách mạng phi thường; là tính sáng suốt, nhạy cảm đặc biệt về chính trị, là tình yêu thương sâu sắc con người; là quan hệ bình đẳng, dân chủ, là đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, là lối sống vì mọi người, là tác phong giản dị, khiêm tốn, là con người vĩ đại mà sống gần gũi với mọi người, sống trong sáng trọn vẹn suốt cuộc đời…
Chính vì lẽ đó mà Người đã để lại không chỉ cho nhân dân Việt Nam, mà còn cho nhân loại một di sản tư tưởng văn hóa vô giá, có giá trị bền vững, như Nghị quyết khóa họp lần thứ 24 của tổ chức UNESCO đã viết “...Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau...”. Với tinh thần đó Hồ Chí Minh không chỉ thuộc về dân tộc Việt Nam, mà còn là của nhân loại…
                                                                                          www.xaydungdang.org.vn

Tác giả bài viết: Hồng Hà (sưu tầm)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn