14:35 EDT Thứ bảy, 19/09/2020
"Sách là cửa ngõ dẫn đến tri thức" -  Tuyên ngôn UNESCO       "Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" -  V.I Lênin        "Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học ở lẫn nhau và học ở dân" - Hồ Chí Minh      

Menu

Đăng nhập thành viên

Liên kết thư viện

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá thế nào về website thư viện tỉnh Sơn La?

Rất tuyệt vời

Dễ thao tác sử dụng

Giao diện thân thiện với người sử dụng

Thuận tiện trao đổi và tra cứu tài liệu

Tất cả các ý kiến trên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 40


Hôm nayHôm nay : 11046

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 201383

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 8570787

Trang nhất » Tin Tức - Sự Kiện » Bạn có biết?

 
Phòng chống dịch virut nCoV
 

HỒ CHỦ TỊCH VỚI CÔNG TÁC THƯ VIỆN

Thứ tư - 13/08/2014 21:36
         Hồ Chủ tịch là một danh nhân văn hóa, một lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Người đã có nhiều công lao đóng góp cho đất nước trên nhiều bình diện khác nhau. Thư viện là một trong vô vàn các lĩnh vực đã được Người dành cho sự quan tâm đáng trân trọng.
         Như bao nhà hoạt động cách mạng khác, Hồ Chủ tịch đã thấy rõ: Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng. Và với Người, sách báo chính là một nguồn quan trọng cung cấp và phổ biến lý luận cách mạng cho quần chúng. Vì thế, Người luôn quan tâm đến việc tổ chức đọc sách báo cho công nhân và những người lao động - lực lượng nòng cốt của cách mạng.
           Trong cuốn "Đường kách mệnh", phần "Tổ chức công hội", Người đã nêu ra bảy điểm, trong đó điểm thứ ba là lập nơi xem sách báo cho công nhân. Vấn đề này được coi trọng và đặt bên cạnh vấn đề lập trường học và nhà thương cho họ. Điều đó chứng tỏ, ngay từ khi chưa giành được chính quyền, Hồ Chủ tịch đã rất chú trọng đến công tác thư viện và Người đã xếp nhu cầu đọc sách báo ngang bằng với các nhu cầu thiết yếu khác của con người, là được học tập và được chữa bệnh khi đau yếu. Và sau này, trong các tác phẩm của mình, Người đã luôn đánh giá cao các quốc gia có sự nghiệp thư viện phát triển.
            Là người từng trải, ngoài hai mươi tuổi, Hồ Chủ tịch đã ra đi tìm đường cứu nước. Người đã bôn ba khắp trời Âu, biển Á, từ Pari hoa lệ đến xứ sở sương mù, nhưng đọng lại ở Người ấn tượng sâu nặng nhất là nước Nga Xô viết. Nơi đây hấp dẫn Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là mảnh đất đã biến "người nô lệ thành người tự do", mà còn tạo cho họ có được cuộc sống đầy đủ cả vật chất lẫn tinh thần. Nước Nga Xô viết đã khiến Người rung động vì nhiều lẽ, trong đó có một điểm khiến Người chú ý là nơi đây có một sự nghiệp thư viện phát triển, mạng lưới thư viện dày đặc khắp toàn quốc. Về điều này, Người đã kể say sưa trong "Liên Xô vĩ đại" - một tác phẩm Người viết vào tháng 10 năm 1957: "Liên Xô có 329.000 thư viện, với 1.300 triệu sách. To nhất là thư viện Lênin ở Matxcơva, với 19 triệu quyển sách bằng 160 thứ tiếng, trong số đó 2.200.000 quyển là sách nước ngoài. Mỗi ngày, hơn 5.000 người đến xem sách ở thư viện Lênin. Các nhà máy, nông trường, cơ quan, trường học nào cũng có phòng sách. Chỉ tính ở nông thôn đã có hơn 119.000 thư viện với hơn 300 triệu quyển sách. Cố nhiên gia đình nào cũng có một tủ sách".
           Khi mô tả lại sự sung sướng và điều kiện sống thuận lợi của trẻ em ở Liên Xô Bác đã chú ý đến một chi tiết: "Các thành phố đều có một thư viện và một hàng sách đặc biệt cho trẻ em".
          Thiếu nhi có một tờ báo riêng. Tờ báo "Sự thật thiếu nhi" ở Mátxcơva có một số lớn biên tập viên và thông tin viên trẻ em, với một triệu bạn đọc nhỏ".
          Không chỉ dừng lại ở việc ngợi khen thành tựu thư viện ở các quốc gia, triều đại tiên tiến, từ thực tế của chính cuộc đời mình, Bác đã khẳng định vai trò, tác dụng của thư viện đối với quá trình học tập, nghiên cứu, góp phần nâng cao trí lực của mỗi cá nhân và mặt bằng dân trí của xã hội.
          Hồ Chủ tịch đã từng là bạn đọc tích cực của các thư viện trong đó có thư viện Quốc gia Pháp. Qua "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" chúng ta được sống lại thời gian Người ở Pháp từ 1919 đến 1923. "Thường thường ông chỉ làm việc nửa ngày, làm buổi sáng để kiếm tiền, còn buổi chiều đi đến thư viện". Thật lý thú khi đọc cuốn "Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử" tập 1: 1890 - 1930 của Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta được biết cụ thể hơn về những ngày này như sau:
          Ngày 9 tháng 12 năm 1919: Hai lần đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ (Sainte Genevieve);
          Ngày 10 tháng 12 năm 1919: Đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ đến 16 giờ;
          Ngày 11 tháng 12 năm 1919: Hai lần đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ;
         Ngày 12 tháng 12 năm 1919: Ba lần đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ: Sáng từ 10 giờ đến 11 giờ 30, chiều từ 13 giờ 50 đến 14 giờ 45, tối từ 18 giờ 45 đến 20 giờ;
          Ngày 13 tháng 12 năm 1919: Hai lần đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ;
          Ngày 15 tháng 12 năm 1919: Từ 10 giờ 50 đến 11 giờ 55 đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ;
          Ngày 17 tháng 12 năm 1919: Đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ từ 9 giờ 45 đến 14 giờ 15;
          Ngày 19 tháng 12 năm 1919: Đến thư viện Xanhtơ Giơnơvievơ từ 10 giờ đến 11 giờ 5;
          Ngày 21 tháng 9 năm 1920: Đến thư viện bình dân của những người bạn giáo dục.
            ......
           Chính nhờ những tài liệu đọc trong thư viện, Hồ Chủ tịch đã có những cứ liệu để viết nên cuốn "Những người bị áp bức" và cuốn "Bản án chế độ Thực dân Pháp" bất hủ.
            Được tiếp xúc và trực tiếp được đào tạo tại Trường Đại học Phương Đông (Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Đông), một trường được thành lập theo quyết định của Quốc tế cộng sản để đào tạo cán bộ cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc ở Liên Xô trước đây, Bác Hồ đã phấn khích kể lại: Trường có 1025 sinh viên, nhưng đã có tới "2 tủ sách với 47.000 quyển sách giúp cho các nhà cách mạng trẻ tuổi đi sâu vào việc nghiên cứu của mình và bồi dưỡng thêm tư tưởng. Mỗi dân tộc hay "nhóm" có một tủ sách riêng, gồm sách báo bằng tiếng mẹ đẻ của họ. Phòng đọc sách được sinh viên trang trí một cách nghệ thuật và có đầy đủ báo chí". Điều lý thú ở đây là tất cả các sinh viên đều lần lượt làm quen với công tác thư viện. Bác viết: "Tất cả các sinh viên đều phải thay phiên nhau làm quen với công tác thư viện". Nhờ có thư viện, việc học tập, nghiên cứu của sinh viên đạt hiệu quả cao hơn. Với ngót hơn hai mươi năm tồn tại, Trường đại học Phương Đông đã đào tạo cho các nước phương Đông hàng ngàn cán bộ, trong đó, có những người về sau đã trở thành những cán bộ lãnh đạo có uy tín của các đảng cộng sản các nước.
           Để tăng cường "hạt giống" cho phong trào cách mạng Việt Nam, Đảng và Hồ Chủ tịch đã tuyển chọn và gửi một số cán bộ đi học và đào tạo tại nước ngoài (trong đó có Đại học Phương Đông) nhưng số lượng cán bộ gửi ra nước ngoài có hạn và không thể đáp ứng được nhu cầu. Vì thế, việc đào tạo tại chỗ cần phải tiến hành. Muốn vậy, phải có tài liệu sách vở. Thực tế lúc bấy giờ Việt Nam rất thiếu những tài liệu cần thiết để tuyên truyền giác ngộ cách mạng và phổ biến lý luận cách mạng. Đứng trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Quốc tế Cộng sản yêu cầu giúp đỡ Việt Nam về sách báo và tư liệu. Trong thư có đoạn viết: "Tôi có mấy yêu cầu và câu hỏi sau đây với các đồng chí. Cần giáo dục các đồng chí An Nam chúng tôi, vì trình độ tư tưởng lý luận của các đồng chí đó còn rất thấp. Tôi yêu cầu các đồng chí: Cho chúng tôi một tủ sách các tác phẩm của Mác và Lênin và các sách khác cần cho việc giáo dục chủ nghĩa cộng sản. Gửi cho chúng tôi báo L' Humanite' và tạp chí Inprekorr và cả điều lệ, cương lĩnh của Đảng và Đoàn thanh niên cộng sản".
          Có thể nói, tủ sách kinh điển trên, cùng với tủ sách bí mật trong các nhà tù của đế quốc và các "Bình dân thư xã" được xây dựng cho mỗi chi bộ đảng thời kỳ trước cách mạng, đã góp phần nâng cao trình độ lý luận của những người cộng sản Việt Nam và nhờ đó, phong trào cách mạng đã diễn ra rầm rộ, sâu rộng, dẫn tới sự thành công của Cách mạng Tháng Tám sau này.
           Tác dụng của sách báo và thư viện không chỉ giúp ích cho việc học tập, nâng cao trình độ, mà trong những bối cảnh nhất định, nó còn có sức mạnh công phá mạnh hơn cả đạn bom. Trong đại chiến thế giới lần thứ hai, Hồng quân Liên Xô đã đóng vai trò quyết định trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất khâm phục đội quân hùng mạnh này. Song, cái làm nên sức mạnh của đội quân ấy không chỉ đơn thuần là sự trang bị đầy đủ về vũ khí, đạn dược, mà cơ bản là "Hồng quân Liên Xô đã được hưởng thụ một nền văn hóa và giáo dục tốt đẹp... Không nói chi đến việc cung cấp lương thực, quần áo, súng đạn được đầy đủ mà ngay cả đến sách báo... Hồng quân cũng được hưởng đầy đủ". Hệ thống thư viện trong quân đội Xô viết đã cung cấp sách báo cho các chiến sĩ ngay cả chốn sa trường. Và chính điều đó đã góp một phần không nhỏ tạo nên sức mạnh tinh thần cho đội quân hùng hậu ấy. Hồ Chủ tịch đã không bỏ qua một chi tiết rất nhỏ nhưng quan trọng đó.
          Do thấy được vai trò, tác dụng của thư viện nên Hồ Chủ tịch đã có nhiều việc làm và đóng góp cho sự nghiệp thư viện của nước nhà. Đó cũng là một bình diện khác mà chúng tôi muốn đề cập đến trong bài báo này.
          Đây là một nét đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khác với những vị quân vương, các nguyên thủ quốc gia khác, sự quan tâm của Hồ Chủ tịch đối với thư viện không chỉ dừng lại ở những ý kiến văn bản, chỉ thị, mà Người còn có nhiều việc làm thiết thực, cụ thể để thể hiện sự quan tâm đó.
          Theo "Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử" tập I và đặc biệt là qua "Búp sen xanh" của nhà văn Sơn Tùng, ngay từ khi còn trẻ tuổi, lúc làm thầy giáo ở trường Dục Thanh ở Phan Thiết, thầy Nguyễn Tất Thành đã nung nấu về việc lập ra một thư viện trong nhà trường để các học trò có nhiều sách để đọc. Không kịp thực hiện điều ấy, trước lúc đi xa Tổ quốc, Người đã để lại một số tiền góp vào quỹ xây dựng thư viện của trường Dục Thanh. Phải chăng để ghi nhớ một việc làm đầy nghĩa cử ấy, về sau này, trong thập kỷ 70, Bộ Giáo dục đã phát động phong trào xây dựng "Tủ sách Nguyễn Tất Thành". Phong trào này đã diễn ra sôi nổi khắp các trường học của miền Bắc một thời. Đó chính là cơ sở để hình thành một hệ thống thư viện nhà trường rộng khắp trên toàn quốc hiện nay.
         Không chỉ dừng lại ở việc hoạch định cho một tương lai mọi người công nhân và nhân dân lao động sẽ có một nơi đọc sách như trong "Đường kách mệnh", ngay sau khi giành chính quyền, Hồ Chủ tịch đã làm một việc mà bất cứ người nào làm công tác thư viện ở Việt Nam cũng không thể không nhắc tới, với một lòng biết ơn vô hạn. Đó là việc Người đã ký Sắc lệnh số 18 về việc đặt thể lệ lưu chiểu văn hóa phẩm trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 31 tháng 1 năm 1946, ngay sau khi Việt Nam giành được độc lập chưa đầy 4 tháng. Nội dung Sắc lệnh gồm 6 chương quy định rõ về cách tổ chức việc nộp lưu chiểu văn hóa phẩm. Sắc lệnh này đã được thi hành trong nhiều năm, góp phần đảm bảo cho các thư viện, đặc biệt là Thư viện Quốc gia Việt Nam, có điều kiện thu, tàng trữ và sử dụng các tài liệu được xuất bản trên đất nước Việt Nam, để phục vụ các nhu cầu đọc của cán bộ và nhân dân.
         Trong đời mình, Hồ Chủ tịch đã được nhận và cũng đã trao tặng nhiều sách báo. Người cũng đã có công xây dựng nên phong trào đọc sách ở trong nhân dân, và đặc biệt là trong lứa tuổi thanh thiếu niên. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 70 ngày sinh của Bác, thanh thiếu niên xã Ngọc Thụy (Gia Lâm - Hà Nội) đã gửi lụa tặng Hồ Chủ tịch, và Người đã đáp lại tấm lòng của lớp trẻ bằng một món quà đặc biệt. Cuốn "Bác Hồ với nông dân Hà Nội" đã ghi nhớ về món quà đó như sau: "Bác đã gửi tặng lại thanh niên xã Ngọc Thụy một tủ sách hơn 200 cuốn, được mua bằng tiền nhuận bút viết báo của Người. Đấy là những cuốn sách hay, những chuyện về các nhà lãnh đạo giỏi, sách khoa học kỹ thuật nông nghiệp và những chuyện cổ tích nữa".
          Đúng là một món quà xiết bao ý nghĩa của một nguyên thủ quốc gia đã trao tặng cho lớp người chủ tương lai của đất nước.
         Ngoài những vấn đề trên, còn có một chi tiết mà chúng ta không thể bỏ qua, khi hệ thống lại những đóng góp và kỷ niệm của Hồ Chủ tịch đối với nghề thư viện. Đó là thái độ trân trọng của Người đối với các nguyên tắc sử dụng thư viện. Theo lời kể của ông Rudolf Pfutner, Đại sứ Cộng hòa Dân chủ Đức tại Việt Nam từ năm 1955 đến 1959: có một lần Hồ Chủ tịch đã ngỏ ý nhờ ông cho mượn một cuốn sách về các loại mô hình máy móc mà Người có dịp xem hồi hoạt động bí mật ở Beclin. Vị đại sứ ấy đã tìm được cuốn sách và xin được tặng Hồ Chủ tịch. Hiềm một nỗi trong sách có in dấu thư viện. Khi nhận được sách, Hồ Chủ tịch đã tỏ ý không hài lòng và Người đã cương quyết trả lại. Người còn nhắc nhở: "Không được lấy sách thư viện để tặng như vậy". Câu chuyện giản dị ấy sẽ mãi mãi là một bài học cho mỗi chúng ta.
          Bác Hồ đã đi xa nhưng tên tuổi và sự nghiệp của Người sẽ còn sống mãi với non sông đất nước. Với những người làm công tác thư viện, những chiến sĩ thầm lặng trên mặt trận văn hóa, những kỷ niệm về Bác sẽ mãi mãi là điều động viên, khích lệ cho chúng ta hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao.
 
Tài liệu tham khảo:
Hồ Chí Minh. Biên niên tiểu sử. T.1.- H.: Thông tin lý luận, 1992.
Hồ Chí Minh toàn tập.- 12 tập.- H.: Chính trị Quốc gia, 1995.
Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.- H.: Chính trị Quốc gia, Thanh niên, 1994.
Trần Đương. Bác Hồ như chúng tôi đã biết.- H.: Thanh niên, 1985.
Bác Hồ với nông dân Hà Nội.- H.: Hội Nông dân, Sở Văn hóa thông tin Hà Nội, 1990.                                                                                                           

Tác giả bài viết: T.H sưu tầm

Nguồn tin: www.hvcsnd.edu.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn