global html

unnamed (1)

CHONCUOICUNG

KỶ NIỆM 84 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM (28/7/1929 - 28/7/2013)

Thứ hai - 22/07/2013 00:20 2.904 0
Sự hình thành Công đoàn Việt Nam
 
 
           Từ cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp lần thứ I (1897 - 1914), giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và phát triển nhanh chóng trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II (1918 - 1930).
             Thời kỳ này, các đô thị và trung tâm công nghiệp cũng hình thành, có nơi tập trung hàng vạn người, số công nhân lên tới trên 25 vạn. Do bị cả thực dân và phong kiến bóc lột hà khắc, giai cấp công nhân Việt Nam đã vùng lên đấu tranh. Từ đấu tranh đã hình thành tính giai cấp và những người công nhân tập hợp lại thành tổ chức như các hội: Ái hữu, Tương tế, Phường hội, Nghiệp đoàn, Công hội… Đó là những tổ chức công đoàn sơ khai và có ở nhiều nơi.
            Công hội Ba Son do bác Tôn Đức Thắng thành lập năm 1920 tại xưởng Ba Son đã có ảnh hưởng lớn trong khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn. Song, Công hội này tồn tại trong thời gian ngắn và chưa có chính cương, điều lệ.
             Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (đoàn viên công đoàn đầu tiên của Việt Nam khi Người gia nhập công đoàn Kim khí quận 17 Paris – Pháp năm 1919) là người đã đặt nền móng, xây dựng cơ sở lý luận và tổ chức cho sự ra đời tổ chức Công hội cách mạng ở Việt Nam mà cho đến nay những lời chỉ dẫn của Người vẫn là kim chỉ nam cho chúng ta.
             Trong tác phẩm: “Đường kách mệnh”, xuất bản năm 1927, Người viết: “Tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn lợi quyền cho công nhân; năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”.
             Để đáp ứng yêu cầu cấp thiết của công tác vận động công nhân và tăng cường sức mạnh cho tổ chức Công hội Đỏ, Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng quyết định triệu tập đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ vào ngày 28/7/1929, tại số nhà 15 phố Hàng Nón - Hà Nội.
              Đại hội đã bầu đồng chí Nguyễn Đức Cảnh là người đứng đầu Ban Chấp hành lâm thời Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ.
              Sự kiện thành lập Tổng Công hội Đỏ miền Bắc Việt Nam là một mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam.
               Lần đầu tiên giai cấp công nhân Việt Nam có một đoàn thể cách mạng rộng lớn, hoạt động có tôn chỉ, mục đích, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo công nhân lao động.
Chính vì ý nghĩa đó, theo đề nghị của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Chính trị TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định lấy ngày 28/7/1929 là ngày truyền thống của Công đoàn Việt Nam.
           Công đoàn Việt Nam là công đoàn cách mạng. Tính cách mạng thể hiện ở chỗ ngoài việc tập hợp, đại diện bảo vệ quyền lợi người lao động, Công đoàn Việt Nam còn đấu tranh vì quyền lợi dân tộc và giai cấp. Lịch sử 80 năm xây dựng và trưởng thành của Công đoàn Việt Nam đã khẳng định điều đó.
              Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tôn trọng vị trí, vai trò, chức năng của Công đoàn Việt Nam. Điều đó được thể hiện trong Hiến pháp và Luật Công đoàn Việt Nam: Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (1992 - Chương I, Điều 10) đã ghi rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục công nhân viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
             Luật Công đoàn Việt Nam (1990 - Chương I, Điều I) đã khẳng định: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam (gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam; là trường học CNXH của người lao động”.
 
                                                                                                                                                                                                                                                                                         congdoan.most.gov.vn
 
 

 
Chặng đường lịch sử vẻ vang của Công đoàn Việt Nam
 
 
                 Quá trình hình thành, phát triển giai cấp công nhân (GCCN), tổ chức Công đoàn Việt Nam (CĐVN) luôn gắn liền với những chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc cả trong đấu tranh giành chính quyền, trong xây dựng bảo vệ Tổ quốc; luôn là lực lượng nòng cốt đi đầu, giai cấp tiên phong, lãnh đạo trong mỗi thời kỳ cách mạng.
                Ngày 05/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Qua tìm hiểu từ phong trào công nhân của nhiều nước ở châu Âu, đấu tranh của công đoàn các nước thuộc địa, Người khẳng định: "Việc cần thiết hiện nay là phát động một cuộc tuyên truyền lớn để thành lập các tổ chức Công đoàn ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa; phát triển Công đoàn hiện có dưới hình thức phôi thai". Đặc biệt trong cuốn Đường cách mệnh, Người viết: "Tổ chức Công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân; năm là giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”. Ngày 28/7/1929, tại nhà số 15 Hàng Nón (Hà Nội), Đại hội Công hội Đỏ chính thức được tổ chức, bầu Ban chấp hành lâm thời do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh đứng đầu, đã thông qua chương trình Điều lệ, ra "Báo Lao động" cùng tạp chí "Công hội Đỏ" làm cơ quan ngôn luận của mình. Từ đây, tổ chức Công hội Đỏ đầu tiên của GCCN Việt Nam do Đảng Cộng sản sáng lập đã chính thức ra đời.
               Ngay sau khi ra đời, Công hội Đỏ đã cùng giai cấp công nhân tích cực đấu tranh sôi nổi, liên tục giành độc lập dân tộc. Suốt thời gian 1930 - 1945 dù có tên gọi có khác nhau (Hội Công nhân phản đế, Hội Công nhân cứu quốc), hoạt động có lúc bí mật, lúc công khai, dù chưa có điều kiện thống nhất trong cả nước, nhưng dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng Cộng sản Đông Dương, Công đoàn Việt Nam thực sự là trung tâm đoàn kết của CNLĐ, không bị chia rẽ bởi các trào lưu cơ hội, hữu khuynh. Từ 6.000 đoàn viên năm 1930, số đoàn viên đã lên 20.000 năm 1945, đóng vai trò quan trọng trong giành chính quyền ở các trung tâm đô thị, khu công nghiệp thời kỳ cách mạng tháng 8/1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
                Cách mạng tháng Tám thắng lợi, đất nước phải đương đầu với nạn đói, nạn dốt, giặc ngoại xâm. Trước tình hình đó, tháng 3/1946, tổ chức Công đoàn được thống nhất về mặt tổ chức trong phạm vi cả nước. Ngày 20/6/1946, Hội Công nhân cứu quốc chính thức đổi tên thành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; đến năm 1949 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được Liên hiệp Công đoàn Thế giới công nhận là thành viên chính thức. Tháng 01/1950, Đại hội lần thứ nhất Công đoàn Việt Nam được triệu tập; nhiều phong trào thi đua được phát động "Thi đua sản xuất", "Thi đua cải tiến kỹ thuật", "Thi đua xây dựng"... được đông đảo công nhân hưởng ứng.
               Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng chuyển sang thời kỳ xây dựng CNXH, Công đoàn tích cực vận động CNVC tham gia công cuộc cải tạo XHCN. Năm 1957 Luật Công đoàn được Quốc hội thông qua, Tổng Liên đoàn được công nhận là tổ chức chính trị xã hội của GCCN. Ngày 23/3/1961, Đại hội II Công đoàn Việt Nam được triệu tập, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được chính thức đổi tên thành Tổng Công đoàn Việt Nam. Tổ chức Công đoàn phát triển mạnh mẽ, được củng cố từ Trung ương đến cơ sở; nổi bật nhất là phong trào thi đua XHCN: "Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt" do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động. Tại 13 địa phương có nhiều cơ sở công nghiệp, Công đoàn đã cùng chuyên môn củng cố, xây dựng 5.508 tổ sản xuất đăng ký thi đua ở cấp cơ sở. Từ năm 1965 - 1975 giặc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh quy mô lớn ở miền Nam, leo thang ra miền Bắc; hoạt động Công đoàn chuyển từ thời bình sang thời chiến. Công đoàn đã động viên CNVC sơ tán hàng nghìn xí nghiệp, máy móc để tiếp tục sản xuất; tranh thủ hàn gắn vết thương chiến tranh. Nhiều phong trào thi đua được CNLĐ hưởng ứng: "Ngày thứ bảy đấu tranh thống nhất nước nhà", "Làm thêm phần việc của anh Trỗi", "Chắc tay súng vững tay búa", với những khẩu hiệu hành động: "Địch đến là đánh, địch đi lại sản xuất", "Đổi máu lấy dòng điện". Trong giai đoạn 1954 - 1975, Công đoàn Việt Nam cùng với GCCN hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử giao phó, đã giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.
                   Đại thắng mùa xuân năm 1975, đã đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Để đáp ứng yêu cầu cách mạng trong thời kỳ mới, ngày 6/6/1976, hội nghị thống nhất Công đoàn toàn quốc đã họp tại thành phố Hồ Chí Minh, thống nhất lấy tên là Tổng Công đoàn Việt Nam. Năm 1980 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Hiến pháp, trong đó Điều 10 xác định vị trí, vai trò của CĐVN trong thời kỳ mới, là cơ sở pháp lý để Công đoàn xác định nhiệm vụ mới. Ngày 16 - 18/11/1983 Đại hội V Công đoàn Việt Nam được tiến hành tại Hà Nội; nhất trí lấy ngày 28/7/1929 làm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam. Trải qua các giai đoạn lịch sử đầy thử thách thăng trầm song bằng những hoạt động tích cực, có thể khẳng định GCCN, tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn là lực lượng đi đầu trong công cuộc đổi mới, góp phần tạo nên những thành tựu rất quan trọng trong đời sống KT-XH, góp phần giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng an ninh; duy trì phát triển sản xuất, quyết tâm đổi mới hoạt động, tiếp cận với hình thức tổ chức kinh tế mới, công nghệ mới hiện đại, thúc đẩy phát triển theo hướng CNH-HĐH đất nước.
                   Hiện nay, đất nước ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, tạo cơ hội tăng trưởng kinh tế nhưng cũng kéo theo nhiều thách thức, tác động trực tiếp tới việc làm, đời sống của công nhân. Trước tình hình đó, tổ chức Công đoàn cùng CNVCLĐ cần phải chủ động, tích cực hơn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động với phương châm “Đổi mới, sáng tạo vì quyền lợi của đoàn viên, CNVCLĐ; vì sự phát triển bền vững của đất nước”.
                 Công đoàn Việt Nam 84 năm hình thành, phát triển so với chiều dài lịch sử của một dân tộc thì mới là “một chặng đường” khởi đầu. Nhưng trên chặng đường đó, tổ chức Công đoàn, CNVCLĐ Việt Nam đã đánh dấu nhiều mốc son lịch sử chói lọi; là thành viên nòng cốt của khối liên minh công - nông - trí; là sợi dây nối liền Đảng Cộng sản Việt Nam với GCCN; chỗ dựa vững chắc của Nhà nước trong mọi hoạt động.
                                                                                                                                                                                                                                                                                 Phạm Thị The 
                                                                                                                                                                                                                                                                  www.baodienbienphu.com.vn
 
 
 
Kỷ niệm 125 năm ngày sinh đồng chí Tôn Đức Thắng
 
               Bác Tôn Đức Thắng, một nhà yêu nước vĩ đại, người chiến sĩ cộng sản kiên cường mẫu mực, lãnh tụ kính mến của giai cấp công nhân (GCCN) và nhân dân các dân tộc Việt Nam. Bác Tôn là hình mẫu phong phú, hoàn chỉnh về lối sống, lẽ sống, nhân cách, đạo đức cách mạng cần kiệm, liêm chính, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Cuộc đời sự nghiệp của Bác Tôn mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp các thế hệ người Việt Nam nói chung, cho các thế hệ GCCN Việt Nam nói riêng noi theo. Bác Tôn Đức Thắng đã có những cống hiến to lớn, quan trọng đối với GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam, thể hiện rõ trên một số lĩnh vực cơ bản sau:
                 1. Bác Tôn thuộc thế hệ công nhân đầu tiên của GCCN Việt Nam, là một trong những người công nhân xuất sắc nhất, một hình mẫu của người công nhân Việt Nam về sự uyên thâm nghề nghiệp và về tinh thần yêu nước nồng nàn
               Vào lúc thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1924), GCCN nước ta đang trong quá trình hình thành, cũng là lúc Bác Tôn học xong tiểu học. Năm 1906, Bác Tôn đến Sài Gòn học nghề, chuẩn bị hành trang cho mình bước vào cuộc đời người thợ.
                 Năm 1910 Bác Tôn vào làm thợ ở xưởng Kroff thuộc Sở Kiến trúc cầu đường và nhà cửa ở Sài Gòn. Bước vào cuộc đời người thợ, Bác Tôn không chỉ thuộc thế hệ những công nhân đầu tiên của GCCN nước ta, giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến đang trong quá trình hình thành, phát triển, mà còn là một trong những người thợ thực sự giỏi về chuyên môn, nghề nghiệp lúc bấy giờ. Do có tay nghề giỏi, nên khi làm thợ, Bác Tôn thường được cử đi sửa chữa máy móc ở nhiều nơi, có khi vào xưởng Ba Son, khi thì vào trường Bách nghệ, đã tạo cho Bác Tôn có điều kiện tiếp xúc, trao đổi với nhiều đối tượng công nhân. Bác Tôn không chỉ thuộc thế hệ những công nhân đầu tiên, thế hệ những công nhân giỏi về chuyên môn nghề nghiệp của GCCN Việt Nam, mà còn là người công nhân có lòng yêu nước nồng nàn, có khát vọng đấu tranh cách mạng kiên cường, cháy bỏng.
                Ngay từ khi đang học trong trường nghề, năm 1909, Bác Tôn đã vận động anh em học sinh lính thủy bỏ học nghề, đấu tranh chống bắt phải làm việc nhiều, ăn khổ, chống chế độ bắt lính. Năm 1910, Bác Tôn đã lãnh đạo cuộc đấu tranh của công nhân kiến trúc cầu đường. Năm 1912 Bác Tôn đã cùng với một số anh em tổ chức và lãnh đạo cuộc bãi công của học sinh trường Bách nghệ đòi tăng lương, chống đánh đập, cúp phạt, tổ chức các hội ái hữu... Tháng 4 năm 1919, Bác Tôn  dũng cảm cùng anh em thủy thủ trên chiến hạm của Pháp đứng lên phản chiến. Chính Bác Tôn là người đã kéo lá cờ đỏ treo trên chiến hạm France để chào mừng nước Nga Xô Viết.
                 Tháng 8 năm 1923, Bác đã lãnh đạo cuộc bãi công của gần một nghìn công nhân Ba Son ngăn cản chuyến đi của chiến hạm Michelet sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Ngày 23 tháng 7 năm 1929, Bác Tôn bị thực dân Pháp bắt và bị ṭòa án kết án tù 20 năm. Ngày 3 tháng 7 năm 1930, Bác Tôn bị́ đày đi Côn Đảo trên chuyến tàu Hadmand Rouseaus, 15 năm ở nhà tù Côn Đảo không hề làm giảm ý chí kiên cường đấu tranh của người chiến sĩ cách mạng, người thợ Tôn Đức Thắng. Ngay sau khi đến nhà tù Côn Đảo, Bác Tôn đã cùng với những người trung kiên sáng lập ra "Hội những người tù đỏ" làm hạt nhân lãnh đạo khối tù. Cách mạng tháng 8 thành công, ngay sau khi thoát khỏi nhà tù, gông xiềng, vừa đặt chân đến đất liền, Bác Tôn lại tham gia ngay vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Ở Bác Tôn dù bất kỳ làm gì, ở đâu, trong hoàn cảnh nào thì chất người công nhân, người chiến sĩ cách mạng vẫn luôn hòa quyện chặt chẽ, luôn một lòng một dạ trung thành với mục tiêu, tư tưởng của GCCN, suốt đời đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho quyền lợi của nhân dân. Bác Tôn thực sự là thế hệ công nhân tiêu biểu nhất của GCCN Việt Nam.
                2. Bác Tôn - một trong những người đầu tiên, truyền bá, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm của phong trào công nhân quốc tế vào xây dựng phong trào công nhân Việt Nam; người có nhiều đóng góp trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xuất thân từ công nhân
                 Năm 1916 Bác Tôn bị động viên vào làm thợ máy cho hải quân Pháp, nên sớm có điều kiện tiếp xúc, giao lưu với công nhân Pháp và công nhân các nước thuộc địa, sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức chính trị, Bác Tôn đã luôn tìm cách tiếp cận với những sách báo tiến bộ. Ngay sau khi Công hội bí mật được thành lập, Bác Tôn đã tổ chức liên lạc chặt chẽ với công nhân, thủy thủ tàu biển để nhận báo chí tiến bộ, như báo Nhân đạo; Người cùng khổ, Việt Nam hồn và những bài báo của Nguyễn Ái Quốc viết về Đông Dương từ Pháp, Trung Quốc gửi về. Bác Tôn đã thường xuyên tổ chức cho anh em chèo thuyền ra sông đọc sách, báo hoặc tự mình nói lại cho anh em nghe về những cuộc đấu tranh của công nhân thế giới.
               Trong quá trình lãnh đạo Công hội bí mật, Bác Tôn đã chủ động bắt liên lạc với một số đồng chí trong tổ chức Việt Nam Cách mạng thanh niên, đã tự nguyện gia nhập và giới thiệu các đồng chí trong nhóm trung kiên cùng gia nhập tổ chức này. Bác Tôn đã trực tiếp bồi dưỡng, phát hiện, giới thiệu và đưa nhiều thanh niên công nhân có tâm huyết sang Quảng Châu học tập, để trở về hoạt động trong phong trào công nhân. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng Bác Tôn luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xuất thân từ công nhân, Bác Tôn đã trực tiếp giáo dục, phát hiện đào tạo, bồi dưỡng nhiều công nhân tiêu biểu như: Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Dung, Ngô Văn Năm, Lê Văn Lưỡng… Những cán bộ này đều được lựa chọn từ phong trào công nhân của nhà máy Ba Son để trở thành những cán bộ lớp đầu tiên của phong trào công nhân và hoạt động công đoàn, mà tên tuổi, sự nghiệp của họ gắn liền với phong trào đấu tranh của GCCN nước ta.
                Bác Tôn, người đã tích cực chuẩn bị mảnh đất tốt để gieo trồng, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và sớm chuẩn bị những điều kiện cho công nhân thợ thuyền Ba Son dễ dàng tiếp thu những quan điểm, tư tưởng mới, tạo cơ sở, nền tảng cho công nhân nâng cao giác ngộ dân tộc, giác ngộ giai cấp. Ngay trong những lúc khó khăn, gian khổ và nguy hiểm nhất ở xà lim tù đày của kẻ thù, Bác Tôn vẫn tranh thủ mọi thời gian nghiên cứu sách báo, nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, không chỉ tự mình nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Bác Tôn còn tìm cách để tuyên truyền và tổ chức cho anh em trong tù cùng nghiên cứu. Tại nhà tù Côn Đảo cuối năm 1932,  Bác Tôn đã tham gia cùng các đồng chí trong chi ủy của nhà tù Côn Đảo xuất bản tờ báo “Ý kiến chung”. Đến đầu năm 1935 lại tham gia cho ra đời tạp chí “Tiến lên” để làm phương tiện tuyên truyền chỉ đạo, hướng dẫn những người cộng sản trong nhà tù Côn Đảo đấu tranh. Những ngày ở nhà tù Côn Đảo Bác Tôn  còn tranh thủ sự ủng hộ của một số binh lính và công chức Pháp ở Côn Đảo, nhờ mua hộ sách báo tiến bộ, nhất là các sách kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin do nhà xuất bản Xã hội Pháp ở Pari ấn hành để nghiên cứu và tuyên truyền trong nhà tù.
                Bác Tôn đã giành trọn vẹn cuộc đời cho việc tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và cho việc tìm những mảnh đất tốt và tạo điều kiện thuận lợi để gieo trồng chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân, hoạt động công đoàn Việt Nam và đào tạo bồi dưỡng cán bộ xuất thân từ công nhân cho cách mạng.      
                3. Bác Tôn người đầu tiên tổ chức ra Công hội cách mạng ở nước ta, người đặt cơ sở, nền móng cho lý luận và nghiệp vụ công tác Công đoàn Việt Nam
              Năm 1916, khi bị động viên vào làm thợ máy cho hải quân Pháp, trong những năm tháng sống ở Pháp và tham gia phong trào đấu tranh của thủy thủ Pháp, Bác Tôn đă ý thức được sức mạnh của giai cấp công nhân nếu họ được tổ chức. Từ những kinh nghiệm tích lũy được khi tham gia tổ chức hoạt động công đoàn ở thành phố Toulon miền Nam nước Pháp, năm 1920 khi trở về Sài Gòn, Bác Tôn đã sớm nhận thấy cần phải tổ chức ra Công hội nhằm tập hợp, tuyên truyền, giác ngộ, vận động công nhân thành tổ chức để đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đòi độc lập dân tộc. Từ thực tế phong trào công nhân và điều kiện cụ thể của nước ta trong những năm đầu của thế kỷ XX, theo Bác Tôn ở Việt Nam Công hội ra đời không chỉ nhằm tập hợp công nhân đấu tranh đòi quyền lợi về kinh tế mà còn phải đòi cả quyền lợi về chính trị.
              Do Công hội ở Việt Nam thời điểm này phải hoạt động bí mật, Bác Tôn  đã tích cực vận động thành lập Công hội, đã cùng với một số anh em lập xưởng sửa chữa xe hơi ở Phú Nhuận, dùng đó làm nơi gặp gỡ, tuyên truyền vận động, tập hợp anh em công nhân, đồng thời để lấy tiền cho Công hội bí mật hoạt động và để giải quyết công ăn việc làm cho một số anh em. Vào năm 1920, Công hội cách mạng bí mật đầu tiên ở Nam Bộ đã được thành lập. Ban Chấp hành Công hội gồm: Tôn Đức Thắng (thợ máy hãng Krốp) Hội trưởng; Nguyễn Văn Cân (thợ nguội hãng FACI) Phó hội trưởng; Đặng Văn Sâm (thợ nhà đèn) thủ quỹ, ngoài ra công hội còn có Trần Trương (Sáu Trương), Đặng Văn Sửu (Nhuận), Trần Văn Hòa (Ba Hòa) Trần Ngọc Giai (Thuận Hóa). Công hội bí mật do Bác Tôn sáng lập ra đời với mục đích là đoàn kết, tương trợ bênh vực quyền lợi của giai cấp công nhân, đấu tranh chống áp bức, bóc lột của bọn đế quốc và tay sai.
              Thời kỳ đầu mới thành lập, những thành viên của Công hội bí mật quy ước với nhau: Chỉ kết nạp vào hội những người yêu nước, có tinh thần hăng hái đấu tranh, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau, trong lúc khó khăn, bệnh tật. Các thành viên trong Công hội bí mật cũng đã thống nhất thu hội phí Công hội theo từng tháng, mỗi người góp một ngày lương trở xuống. Sự ra đời của Công hội bí mật đầu tiên ở nước ta đánh dấu một thời kỳ mới trong lịch sử của GCCN Việt Nam, thời kỳ GCCN Việt Nam bắt đầu chuyển sang giai đoạn đấu tranh từ tự phát sang tự giác, từng bước đưa giai cấp công nhân Việt Nam lên vũ đài chính trị và trở thành lực lượng chính trị độc lập, mở đầu cho giai đoạn đấu tranh mới, giai đoạn đấu tranh có tổ chức.
              Ngay sau khi Công hội bí mật ra đời, các cuộc bãi công của công nhân do Công hội bí mật tổ chức tuy là đấu tranh kinh tế, nhưng đã mang tính chất chính trị rõ rệt. Công hội bí mật đã chú trọng mở rộng quan hệ với các tầng lớp tiến bộ khác, nhằm tranh thủ sự đồng  tình, ủng hộ của các lực lượng trong xã hội. Bác Tôn - người sáng lập ra Công hội bí mật đã thường xuyên cùng anh em công nhân về các tỉnh để tuyên truyền tinh thần yêu nước trong bà con chòm xóm, nhằm xây dựng quan hệ gắn bó những người yêu nước ở các vùng quê với Công hội.
Đối với phong trào yêu nước của tầng lớp trí thức tiểu tư sản, Công hội bí mật cũng tích cực ủng hộ và tham gia tất cả các cuộc mít tinh, biểu tình công khai, nhưng Công hội bí mật vẫn giữ riêng tổ chức độc lập. Hoạt động của Công hội bí mật tuy còn sơ khai, nhưng đã biểu hiện tinh thần đoàn kết giai cấp công nhân Việt Nam với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội.
            Từ thực tiễn vận động thành lập và lãnh đạo Công hội bí mật hoạt động, Bác Tôn người đã góp phần quan trọng vào việc đặt cơ sở, nền móng cho lý luận, nghiệp vụ công tác Công đoàn Việt Nam hiện nay, tiêu biểu cho lý luận, nghiệp vụ công tác công đoàn đó là: Công tác tổ chức, nội dung, phương pháp hoạt động của Công đoàn phải xuất phát từ tình hình cụ thể của phong trào công nhân, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của mỗi giai đoạn cách mạng. Hoạt động công đoàn phải gắn chặt việc thực hiện mục tiêu kinh tế với mục tiêu chính trị, phải kiên trì vận động, thuyết phục và chú trọng công tác tuyên truyền vận động, tập hợp công nhân, lao động. Để nâng cao tinh thần trách nhiệm, sự gắn bó của đoàn viên với tổ chức và để có kinh phí hoạt động, công đoàn phải có quy định thống nhất hàng tháng đoàn viên phải đóng đoàn phí. Cán bộ Công đoàn là nhân tố hết sức quan trọng, cần phải quan tâm thường xuyên đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Cán bộ công đoàn phải sâu sát quần chúng. Công đoàn phải quan tâm xây dựng quan hệ đoàn kết, thống nhất trong tổ chức. Đồng thời phải chú trọng xây dựng quan hệ đoàn kết với các tổ chức, các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội.
              4. Bác Tôn - một trong những người đầu tiên nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản và trực tiếp có nhiều đóng góp quan trọng vào xây dựng quan hệ đoàn kết giữa GCCN Việt Nam với GCCN các nước trên thế giới
             Bác Tôn một trong những người công nhân Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công nhân, công đoàn Pháp, Người trực tiếp tham gia xây dựng quan hệ giữa GCCN Việt Nam và GCCN Pháp. Tháng 9 năm 1916, khi đang theo học trường thợ máy Á Châu tại Sài Gòn, Bác Tôn bị chính quyền thực dân động viên vào đội lính thợ phục vụ cho quân đội Pháp tại xưởng Áenal de Toulon (miền Nam nước Pháp). Tại đây Bác Tôn đã tự nguyện gia nhập Nghiệp đoàn công nhân Pháp, cùng làm việc với những người lao động Pháp và lao động các nước thuộc địa, thuộc các màu da, dân tộc khác nhau. Bác Tôn đã nhanh chóng hòa nhập vào cuộc sống và lao động của GCCN Pháp đã tích cực vận động anh em thủy thủ, thợ máy Pháp và các nước thuộc địa đấu tranh chống tệ phân biệt chủng tộc, phân biệt đối xử giữa sĩ quan và binh lính trong quân đội Pháp.
            Sống, làm việc cùng thủy thủ các nước, Bác Tôn đã dần dần hình thành tình cảm với những người chiến sĩ đấu tranh bảo vệ nước Nga cách mạng. Bác Tôn đã đồng tình với những người bạn Pháp đang vận động phản chiến, chống lại lệnh chiến đấu của chỉ huy. Ngày 19 tháng 4 năm 1919, thủy thủ trên chiến hạm France họp bàn lập kế hoạch sẽ hành động, Bác Tôn được giao nhiệm vụ kéo lá cờ đỏ mở đầu cuộc binh biến của thủy thủ trong buổi lễ chào cờ sáng ngày 20 tháng 4 năm 1919. Từ một người yêu nước, Bác Tôn đã trở thành một chiến sĩ quốc tế trong sáng, người công nhân Việt Nam đầu tiên anh dũng tham gia đấu tranh ủng hộ GCCN và bảo vệ thành quả cách mạng Tháng Mười Nga. Tháng 8 năm 1925 trên đường chở quân sang Trung Quốc, hạm đội Pháp gồm các chiến hạm Julé Mitchelet, Julé Ferry và Le Maine cập cảng Sài Gòn, chiếc Đô đốc hạm Mitchelet bị hỏng phải đưa vào xưởng Ba Son để sửa chữa gấp. Nắm được âm mưu của kẻ thù, với tinh thần quốc tế trong sáng, cao cả, Bác Tôn đã quyết định cùng với ban lãnh đạo Công hội Sài Gòn - Chợ Lớn vận động công nhân Ba Son kéo dài thời gian sửa chữa tàu Mitchelet đến mãi ngày 28 tháng 11 năm 1925, để ủng hộ những người anh em công nông Trung Quốc.
              Những sự kiện trên là biểu hiện đẹp đẽ của tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả, sự trưởng thành về ý thức chính trị của Bác Tôn, cũng như của GCCN Việt Nam trong đấu tranh cách mạng. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của  mình, Bác Tôn Đức Thắng có nhiều đóng góp quan trọng vào việc xây dựng, vun đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các dân tộc Pháp, Nga và nhân dân các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đặc biệt, Bác Tôn  đã phấn đấu không mệt mỏi vì hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc 3 nước Đông Dương trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng.
                5. Phẩm chất, đạo đức trong sáng, ý chí phấn đấu kiên cường, bền bỉ của Bác Tôn là tấm gương sáng, là hình mẫu cho các thế hệ công nhân Việt Nam phấn đấu, rèn luyện, noi theo
              Cuộc đời hoạt động của Bác Tôn rất phong phú, đa dạng, từ học nghề, làm thợ, làm lính đến tổ chức đấu tranh, từ tù đày Côn Đảo đến tham gia kháng chiến, tham gia các chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị. Từ trực tiếp tham gia hoạt động trong phong trào công nhân, công đoàn ở nước ngoài, đến tham gia hoạt động ở trong nước. Dù ở đâu, Bác Tôn cũng luôn thể hiện rõ một người yêu nước, thương dân nhất mực, người có tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, chia sẻ ngọt bùi, tương thân tương ái, trọng nghĩa khí, ghét áp bức bất công, cần cù sáng tạo, bao dung, độ lượng.
                 Khi bị bắt giam, đày đọa hơn 15 năm trời trong ngục tù Côn Đảo, với những cực hình hết sức dã man, nhốt vào hầm xay lúa, nhốt vào hầm tối, tay chân bị xiềng xích, kìm kẹp, bị đánh đập tàn bạo, bị bỏ đói, khát, Bác Tôn vẫn giữ vững tinh thần cách mạng kiên cường và sự trung thành vô hạn đối với Đảng, luôn tin tưởng ở tương lai tươi sáng của dân tộc, luôn vui vẻ, không bao giờ sao nhãng công tác cách mạng, chịu khó nghiên cứu, học tập lý luận. Bản lĩnh và hành động của Bác Tôn  làm kẻ thù phải kính nể, đồng chí, bạn bè càng quý trọng, kính phục. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng dù ở đâu, với những cương vị quan trọng khác nhau của Đảng, Nhà nước, Bác Tôn vẫn giữ vững những đức tính vốn có của mình, ăn những món ăn giản dị, như những món ăn của quê nhà, vẫn mặc như những người bình thường, ghét sự xa hoa, lãng phí, ham lao động trí óc và chân tay.
                  Bác Tôn luôn chăm lo, giữ gìn, củng cố tình đoàn kết đồng chí, đồng bào, đoàn kết với các nước anh em và bè bạn quốc tế vì độc lập thống nhất Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc. Trong công tác cũng như trong sinh hoạt, Bác Tôn Đức Thắng luôn nêu tấm gương mẫu mực, sáng ngời về tính nguyên tắc, tính tổ chức, dù làm việc lớn, việc nhỏ đều phấn đấu không mệt mỏi, đều tuân thủ quyết định của tổ chức.
                 Cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác Tôn là tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tụy, về tinh thần anh dũng, bất khuất, về đức tính khiêm tốn, giản dị. Như cố Thủ tưởng Phạm Văn Đồng đã viết "di sản quý báu nhất mà đồng chí Tôn Đức Thắng để lại cho nhân dân là chất người Tôn Đức Thắng..., tinh túy của chất người ấy là lòng thương nước, yêu dân, niềm ưu ái với đồng bào, đồng chí, niềm tin sắt đá vào thắng lợi của cách mạng, mặc dù khó khăn, gian khổ, nhưng tinh thần một lòng một dạ phục vụ nhân dân, đức chí công vô tư, quên mình, sự khiêm tốn giản dị, hồn nhiên trong sáng. Đó là chất cách mạng tinh khiết, không gì làm phai nhạt được, từ thủa thanh niên đến cuối đời, vượt qua muôn trùng thử thách ngày càng ngời lên đẹp đẽ và cao quý".
                  Phẩm chất đạo đức, ý chí phấn đấu bền bỉ, kiên cường của Bác Tôn Đức Thắng tượng trưng cho tinh hoa phẩm chất cách mạng của GCCN và nhân dân Việt Nam. Đạo đức của Bác Tôn là kiểu mẫu phong phú, hoàn chỉnh về lối sống, nhân cách của một người cách mạng suốt đời hoạt động vì nước, vì dân, về tấm lòng trung thành, dũng cảm, thể hiện ý chí sức mạnh phi thường không gì lay chuyển nổi. Bác Tôn mãi mãi là tấm gương sáng, là  hình mẫu cho các thế hệ công nhân Việt Nam noi theo.
 
                                                                                                                                                                                                                                                    TS. Dương Văn Sao
                                                                                                                                                                                                                                         Viện Công nhân - Công đoàn
                                                                                                                                                                                                                                                  www.congdoanvn.org.vn
 

 
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ I
 
                  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ I khai mạc vào sáng ngày 1/1/1950 và làm việc đến hết ngày 15/1/1950, tại xã Cao Vân, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Về dự Đại hội có trên 200 đại biểu thay mặt cho khoảng 350.000 công nhân, viên chức, lao động. Nhiều chiến sĩ thi đua các ngành, các đoàn thể quần chúng cách mạng, các đại biểu nước ngoài cũng tham dự Đại hội. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, đại diện Mặt trận Dân tộc Thống nhất đã đến dự Đại hội.
                    Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ nhất tiến hành nhằm kiểm điểm và tổng kết kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam từ khi hình thành, nhất là từ sau Cách mạng tháng Tám thắng lợi đến thời điểm Đại hội.
                    Đại hội đã nhận được thư chào mừng của Liên hiệp Công đoàn thế giới, đặc biệt nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thư, Bác viết: “…Nhân dịp Đại hội, tôi gửi lời thân ái chúc các đại biểu mạnh khỏe và Đại hội có kết quả thiết thực, tốt đẹp. Trong cuộc kháng chiến của dân tộc, giai cấp công nhân ta đã góp phần quan trọng và đã có những thành tích vẻ vang, từ nay giai cấp công nhân ta phải là người lãnh đạo. Vì vậy, mọi nam, nữ công nhân phải cố gắng học tập tiến bộ, phải cố gắng xung phong làm biểu mẫu trong mọi việc để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của giai cấp mình…”.
                   Đại hội đã nghe bài phát biểu quan trọng của đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng về nhiệm vụ của Công đoàn và của giai cấp công nhân. Đại hội đã thảo luận sôi nổi bản báo cáo của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam “Công nhân Việt Nam chiến đấu cho độc lập, dân chủ và hòa bình”, do đồng chí Trần Danh Tuyên trình bày.
Đại hội đề ra mục tiêu: “Động viên công nhân, viên chức cả nước, nhất là ngành Quân giới sản xuất nhiều vũ khí, khí tài phục vụ cho kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi”.
Đại hội đã đề ra nhiệm vụ mới của giai cấp công nhân và Công đoàn trong kháng chiến, Nghị quyết Đại hội đã nêu rõ: “Tích cực cùng toàn dân chuẩn bị chuyển sang tổng phản công, tiêu diệt thực dân Pháp và bù nhìn tay sai, đánh bại âm mưu can thiệp của đế quốc Mỹ, giành độc lập, thống nhất thật sự cho Tổ quốc, góp phần cùng lao động và nhân dân các nước đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới”.
                  Đại hội đề ra nhiệm vụ hoạt động quốc tế: “Chung sức với lao động và các lực lượng dân chủ thế giới đấu tranh chống phản động quốc tế, nhất là phản động Mỹ, để bảo vệ hòa bình, dân chủ cho nhân loại. Liên kết và ủng hộ Liên Xô và các nước dân chủ mới. Tích cực hoạt động để góp phần thống nhất lao động thế giới. Đoàn kết chặt chẽ với lao động và các dân tộc bị áp bức, đánh đổ chế độ thực dân xâm lược, giành quyền tự do, độc lập thực sự cho các quốc gia. Giúp đỡ và phối hợp với công nhân, lao động Miên, Lào đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân Pháp trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Pháp”.
                    Đại hội bầu đồng chí Tôn Đức Thắng - Người thành lập và lãnh đạo Công hội Ba Son (1921) làm Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam gồm 21 ủy viên chính thức và 4 Ủy viên dự khuyết. Ban Thường vụ Tổng Liên đoàn gồm: Trần Danh Tuyên, Nguyễn Hữu Mai, Hoàng Hữu Đôn, Nguyễn Duy Tính, Trần Quốc Thảo. Đồng chí Hoàng Quốc Việt (tức Hạ Bá Cang), Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng (2/1951 là Ủy viên Bộ Chính trị) được bầu làm Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đồng chí Trần Danh Tuyên được bầu làm Tổng Thư ký, các đồng chí Nguyễn Hữu Mai, Trần Quốc Thảo được bầu làm phó Tổng Thư ký.
                     Sau nửa tháng làm việc, ngày 15/1/1950, Đại hội đại biểu Công đoàn Việt Nam lần thứ nhất đã kết thúc tốt đẹp, đánh dấu một bước trưởng thành to lớn của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam. Nghị quyết được Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ nhất thông qua, là sự vận dụng đúng đắn, cụ thể và sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương vào phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và hoạt động công đoàn, là điều kiện rất thuận lợi cho giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam hoàn thành những nhiệm vụ quan trọng trong bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.   
 
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ II
 
                      Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ II họp từ ngày 23 - 27/2/1961, tại Trường Thương nghiệp - Hà Nội, (gần Cầu Diễn, cách trung tâm Hà Nội 5 km, trên đường đi thị xã Sơn Tây). Tổng số đại biểu về dự Đại hội có 752 người, trong đó có 666 đại biểu chính thức và 86 đại biểu dự khuyết. Đại hội vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu ý kiến. Đại hội đã quyết định lấy thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Huấn thị của Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho phương hướng, nhiệm vụ công tác Công đoàn Việt Nam.
                    Đại hội đề ra mục tiêu: “Động viên cán bộ, công nhân, viên chức thi đua lao động, sản xuất, xây dựng CNXH ở miền Bắc với tinh thần: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, góp phần đấu tranh thống nhất nước nhà”.
                    Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ II khẳng định: “Sự nghiệp công nghiệp hóa XHCN có ý nghĩa quyết định rất lớn đối với sự phát triển thắng lợi của cách mạng nước ta, đồng thời bảo đảm nâng cao vai trò  lãnh đạo của giai cấp công nhân, của Đảng tiên phong và phát huy tác dụng tích cực của Công đoàn trong mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội”.
                 Đại hội đã chỉ ra nhiệm vụ chung là: “Đoàn kết, tổ chức, giáo dục toàn thể công nhân viên chức, phát huy khí thế cách mạng, khí thế làm chủ và tính tích cực sáng tạo của quần chúng làm cho quần chúng mau chóng nắm vững kỹ thuật tiên tiến, để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa XHCN, trước mắt là thi đua hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc”.  
                 Đại hội nêu ra luận điểm Công đoàn là trường học chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của giai cấp công nhân. Không ngừng nâng cao giác ngộ XHCN, nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ của công nhân, viên chức là chức năng nhiệm vụ của Công đoàn.
                  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ II đã quyết định đổi tên Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thành Tổng Công đoàn Việt Nam. Đồng thời nhất trí thông qua Điều lệ Công đoàn Việt Nam gồm 10 chương và 45 điều trong đó qui định cụ thể nhiệm vụ, quyền lợi đoàn viên, nguyên tắc tổ chức, quyền hạn và nhiệm vụ của các cấp công đoàn. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam mới gồm 54 Ủy viên chính thức, 11 Ủy viên dự khuyết. Đoàn Chủ tịch gồm 19 người: Hoàng Quốc Việt, Trần Danh Tuyên, Nguyễn Công Hòa, Bùi Quỳ, Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Hộ, Hà Văn Tính, Trương Thị Mỹ, Trịnh Công Song, Nguyễn Đức Tính, Trần Đại Lư, Hồ Sỹ Ngợi, Lê Văn Cơ, Ngụy Như Kon - Tum, Trần Anh Liên, Nguyễn Khai (Nguyễn Mậu), Trần Bảo, Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Minh. Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu lại làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, Ban Thư ký gồm có 9 người: Bùi Thế Dương, Nguyễn Minh, Nguyễn Đăng, Trần Danh Tuyên, Bùi Quí, Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Hộ và Hà Văn Tính. Đồng chí Trần Danh Tuyên được bầu làm phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký.
 
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ III
 
                     Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ III họp từ ngày 11 - 14/2/1974, tại Hội trường Ba Đình - Hà Nội. Tham dự Đại hội có 600 đại biểu (100 đại biểu dự khuyết) thay mặt cho hơn 1 triệu đoàn viên công đoàn và công nhân, viên chức cả nước. Đại hội đã đón 25 đoàn khách đại diện cho giai cấp công nhân và công đoàn quốc tế và đoàn đại biểu Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam Việt Nam do đồng chí Đặng Trần Thi (Phó Chủ tịch Liên hiệp Công đoàn giải phóng) dẫn đầu. Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Tôn Đức Thắng - Chủ tịch nước, đồng chí Phạm Văn Đồng - Thủ tướng Chính phủ đã đến dự Đại hội.
                   Đại hội đề ra mục tiêu: “Động viên sức người, sức của chi viện cho chiến trường, tất cả để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”.
                 Đại hội đề ra nhiệm vụ cụ thể của Công đoàn trong hai năm 1974 - 1975 là: “nhanh chóng hoàn thành việc hàn gắn những vết thương chiến tranh, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa; tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH; củng cố quan hệ sản xuất XHCN, củng cố chế độ XHCN về mọi mặt, ổn định tình hình kinh tế và đời sống nhân dân, ra sức làm tròn nghĩa vụ đối với miền Nam anh hùng.
Đại hội biểu dương thành tích to lớn của giai cấp công nhân và phong trào công đoàn trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, khẳng định sự đóng góp to lớn của giai cấp công nhân trong 13 năm qua. Đại hội nghe bài phát biểu quan trọng của Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn về: “Giai đoạn mới của cách mạng và nhiệm vụ của Công đoàn”. Đại hội thông qua Điều lệ sửa đổi trong đó xác định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn.
                  Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam gồm 71 Ủy viên chính thức. Đoàn Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam (cơ cấu đại diện, chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành quyết định chủ trương công tác giữa hai nhiệm kỳ đại hội) gồm 19 đồng chí: Vũ Tất Ban, Nguyễn Văn Bút, Lê Bùi, Đoàn Văn Cứ, Nguyễn Văn Diện, Nguyễn Văn Đệ, Vũ Định, Lê Minh Đức, Đỗ Trọng Giang, Cù Thị Hậu, Nguyễn Công Hòa, Trương Thị Mỹ, Nguyễn Tam Ngô, Nguyễn Văn Nhỡ, Thái Ngô Tài, Nguyễn Đức Thuận, Ngô Thị Thuận, Hoàng Quốc Việt và Lê Vân. Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch danh dự; Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu lại làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Các đồng chí Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Công Hòa, Trương Thị Mỹ được bầu làm Phó chủ tịch. Ban Thư ký (chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành và Đoàn Chủ tịch về việc chuẩn bị các văn kiện đại hội cho Đoàn Chủ tịch và Ban Chấp hành thảo luận, quyết định, tổ chức, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội của Công đoàn toàn quốc, Nghị quyết của Ban Chấp hành và Nghị quyết của Đoàn chủ tịch) gồm 9 đồng chí: Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Văn Diện, Vũ Định, Đỗ Trọng Giang, Nguyễn Công Hòa, Trương Thị Mỹ, Nguyễn Tam Ngô, Nguyễn Thuyết và Lê Vân, Tổng Thư ký là đồng chí Nguyễn Đức Thuận. Ban Kiểm tra gồm 5 đồng chí, trưởng ban là đồng chí Trương Thị Mỹ.
                Phát huy thắng lợi của Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ III, tổ chức Công đoàn đă vận động đội ngũ công nhân viên chức miền Bắc khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu, năng động, sáng tạo, thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng và kế hoạch Nhà nước những năm tiếp theo.
 

Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IV
 
 
                 Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IV được tiến hành sớm hơn một năm trong điều kiện cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn đất nước thống nhất, cả nước cùng đi lên CNXH.
                Ngày 8/5/1978 Đại hội lần thứ IV Công đoàn Việt Nam khai mạc tại Hội trường Ba Đình - Hà Nội. Đại hội diễn ra trong 4 ngày (từ 8/5 đến 11/5/1978). Tham dự Đại hội có 926 đại biểu thay mặt cho trên 3 triệu đoàn viên công đoàn, công nhân, viên chức trong cả nước. Đây là Đại hội đầu tiên của phong trào công đoàn Việt Nam sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nước nhà thống nhất và tổ chức Công đoàn hai miền Nam Bắc đã được thống nhất.
                Đại hội vinh dự được đón các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, có đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng chí Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch danh dự Tổng Công đoàn Việt Nam; đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đồng chí Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ và các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đến dự Đại hội. Đại hội đón 36 đoàn đại biểu quốc tế đại diện cho tổ chức Công đoàn thế giới, mang đến cho giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam tình đoàn kết của phong trào công nhân, Công đoàn thế giới.
                    Đại hội đã đề ra mục tiêu: “Động viên giai cấp công nhân và người lao động thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa trong cả nước”.
                 Đại hội đã cụ thể hóa những nhiệm vụ cách mạng của giai cấp công nhân và phong trào công đoàn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng mà nhiệm vụ trọng tâm là: “Tập hợp, vận động công nhân lao động hăng hái thi đua sản xuất, thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ II”. Đại hội đề ra 8 nhiệm vụ cụ thể là:
                - Phát động phong trào cách mạng của công nhân viên chức thi đua lao động sản xuất cần kiệm xây dựng CNXH nhằm tăng năng suất lao động, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước.
               - Đẩy mạnh phong trào công nhân viên chức thi đua phục vụ nông nghiệp.
               - Tổ chức và từng bước cải thiện đời sống, phát triển phúc lợi bảo vệ lợi ích chính đáng của công nhân viên chức.
               - Vận động cán bộ viên chức tích cực tham gia hoàn thành các quan hệ sản xuất ở miền Nam.
               - Tích cực tham gia cải tiến quản lý xí nghiệp, quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước nhằm củng cố và quan hệ sản xuất XHCN.
               - Đẩy mạnh giáo dục chính trị, văn hóa, kỹ thuật và nghiệp vụ cho công nhân viên chức.
               - Tích cực góp phần tăng cường đoàn kết lao động và phong trào công đoàn thế giới đấu tranh vì  quyền lợi của những người lao động, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.
               - Cải tiến công tác, xây dựng công đoàn vững mạnh.
              Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam gồm 155 Ủy viên. Ban Thư ký gồm 12 đồng chí: Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Hộ, Mai Văn Bẩy, Nguyễn Văn Diện, Vũ Định, Đỗ Trọng Giang, Nguyễn Thị Hiếu, Trần Anh Liên, Nguyễn Tam Ngô, Nguyễn Thuyết, Nguyễn Văn Ưng (tức Tấn). Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (sau này là Tổng Bí thư BCHTƯ Đảng) được bầu làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Phó chủ tịch kiêm Tổng Thư ký và đồng chí Nguyễn Hộ được bầu làm Phó chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Ban Kiểm tra có 7 Ủy viên, do đồng chí Nguyễn Văn Ưng làm Trưởng ban.
 

Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ V
 
 
                  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ V họp từ ngày 16/11 đến 18/11/1983 tại Hội trường Ba Đình - Hà Nội (họp trù bị tại khách sạn Giảng Võ - Hà Nội). Đại hội gồm 949 đại biểu thay mặt cho gần 4 triệu đoàn viên công đoàn trong cả nước về dự. Đến dự Đại hội có các đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, đồng chí Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
                  Đại hội đã xác định mục tiêu tổng quát là: “Động viên công nhân lao động thi đua thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng: Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”.
                    Đại hội đề ra những nhiệm vụ cụ thể là:
                   - Đẩy mạnh sản xuất công nghiệp.
                   - Phát triển sản xuất nông nghiệp, đưa nông nghiệp từng bước lên sản xuất lớn XHCN.
                   - Lập lại trật tự xã hội chủ nghĩa trên mặt trận phân phối lưu thông, chăm sóc đời sống và bảo vệ lợi ích chính đáng của công nhân, viên chức.
                   - Thực hiện những nhiệm vụ văn hóa, xã hội.
                   - Tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, đấu tranh chống địch và các phần tử phá hoại, chống các hiện tượng tiêu cực, bảo vệ sản xuất, sẵn sàng chiến đấu.
                   - Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, xây dựng người công nhân mới xã hội chủ nghĩa, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
                - Phát triển hợp tác với Công đoàn Lào, Công đoàn Campuchia, Công đoàn Liên Xô và Công đoàn các nước trong cộng đồng XHCN, tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh của phong trào công đoàn thế giới vì lợi ích của người lao động, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
                    Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ V nhất trí lấy ngày 28/7/1929, ngày thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc kỳ làm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam.
                    Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam gồm 155 đồng chí. Ban Thư ký gồm 13 đồng chí: Phạm Thế Duyệt, Dương Xuân An, Đinh Gia Bẩy, Mai Văn Bảy, Vũ Xuân Cận, Hoàng Mạnh Chính, Vũ Định, Phạm Lợi, Lê Phong, Vũ Kim Quỳnh, Nguyễn Thị Thân, Đỗ Thị Thiệp và Hoàng Tỉnh. Đồng chí Nguyễn Đức Thuận, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Đồng chí Phạm Thế Duyệt, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng được bầu làm Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký.
                     Ủy ban kiểm tra Tổng Công đoàn Việt Nam có 11 đồng chí do đồng chí Nguyễn Thị Thân làm Trưởng Ủy ban.
 
 
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VI
 
                     Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VI tổ chức trọng thể từ ngày 17 - 20/10/1988, tại Hội trường Ba Đình - Hà Nội. Đại hội gồm có 834 đại biểu thay mặt cho hơn 3 triệu đoàn viên công đoàn. Tới dự Đại hội có đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các đồng chí cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo cùng nhiều đồng chí lãnh đạo khác của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các cơ quan đoàn thể quần chúng và các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng.
                      Đại hội VI Công đoàn Việt Nam là sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của giai cấp công nhân và người lao động. Đây là Đại hội đầu tiên thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời cũng đặt ra cơ sở lý luận cho đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn.
                      Đại hội với tinh thần đổi mới “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” trong bầu không khí công khai, dân chủ. Đại hội đã đánh giá thực trạng tình hình phong trào công nhân và hoạt động công đoàn đề ra giải pháp khắc phục yếu kém để đưa phong trào công nhân và hoạt động công đoàn phát triển, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng, một mốc quan trọng trên con đường đổi mới đất nước.
                    Đại hội đã đề ra mục tiêu có sức cổ vũ mạnh mẽ đối với công nhân lao động là: “ Việc làm và đời sống, dân chủ và công bằng xã hội”.
                 Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho thời gian tới, trong đó hai nhiệm vụ chính là: “Động viên công nhân, lao động đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hăng hái đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm; Chăm lo đời sống, bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động”.
                   Để phù hợp với yêu cầu tập hợp người lao động thuộc các thành phần kinh tế, phù hợp với yêu cầu mở rộng đối tượng và phạm vi hoạt động của Công đoàn trong tình hình mới, Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VI quyết định đổi tên Tổng Công đoàn Việt Nam thành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Đổi tên các Liên hiệp công đoàn tỉnh, thành phố, đặc khu, huyện, thị xã thành Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, đặc khu, huyện, thị xã. Bỏ chức danh Tổng thư ký, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là người đứng đầu Ban Chấp hành và Ban Thư ký Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; thay chức danh Thư ký công đoàn các cấp bằng chức danh Chủ tịch công đoàn.    
                 Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 155 người; Ban Thư ký (Đoàn Chủ tịch) gồm 15 người: Nguyễn Văn Tư, Dương Xuân An, Cù Thị Hậu, Đinh Gia Bẩy, Đào Thị Biểu, Vũ Tất Ban, Nguyễn Ngọc Cận, Hoàng Minh Chúc, Nguyễn Xuân Can, Hoàng Thị Khánh, Nguyễn An Lương, Lê Phong, Vũ Kim Quỳnh, Nguyễn Hồng Quân và Đỗ Thị Thiệp. Đồng chí Nguyễn Văn Tư, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Đồng chí Cù Thị Hậu, Ủy viên Trung ương Đảng - Phó Chủ tịch thường trực và đồng chí Dương Xuân An được bầu làm Phó chủ tịch TLĐ.
                    Ủy ban Kiểm tra gồm 11 người, do đồng chí Cù Thị  Hậu làm Chủ nhiệm Ủy ban.
 
 
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VII
 
                   Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VII được tiến hành từ ngày 9 - 12/11/1993, tại Hội trường Ba Đình - Hà Nội. Tham dự Đại hội có hơn 600 đại biểu thay mặt cho công nhân, viên chức, lao động khắp mọi miền đất nước. Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tới dự Đại hội.
                   Phát biểu chỉ đạo Đại hội đồng chí Đỗ Mười nhấn mạnh: “Phải tập trung sức xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, trước hết là đội ngũ công nhân, lao động trong các ngành sản xuất, kinh doanh và trong khu vực quản lý Nhà nước. Tăng cường đoàn kết thống nhất giai cấp công nhân, gắn lợi ích giai cấp công nhân với lợi ích dân tộc; làm hạt nhân trong khối liên minh công - nông - trí thức, lực lượng chủ yếu bảo đảm thành công của quá trình CNH, HĐH nước nhà”. “Công đoàn có trách nhiệm động viên công nhân lao động xây dựng khối đại kết toàn dân… phát huy sức mạnh tổng hợp của cả  nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Khắc phục tình trạng “Nhà nước hóa, hành chính hóa” trong tổ chức và phương thức hoạt động công đoàn.
                 Đại hội VII Công đoàn Việt Nam xác định mục tiêu của hoạt động công đoàn 5 năm (1993 - 1998) là: “Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn, góp phần và xây dựng bảo vệ Tổ quốc, chăm lo và bảo vệ lợi ích của công nhân, lao động”.
                   Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ chính của Công đoàn những năm 1993 - 1998:
                 - Động viên công nhân, lao động phát huy tính năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, góp phần phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xă hội chủ nghĩa;
                 - Vận động công nhân, lao động tích cực góp phần tham gia xây dựng Đảng, tham gia xây dựng chính quyền vững mạnh, bảo vệ Tổ quốc;
                 - Tham gia xây dựng giám sát, kiểm tra thực hiện chính sách; tăng cường các hoạt động xă hội để bảo vệ lợi ích, chăm lo đời sống công nhân, lao động;
                 - Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục góp phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh; tăng cường khối liên minh công - nông - trí thức;  
                 - Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao năng lực và bản lĩnh đội ngũ cán bộ công đoàn;
                - Đẩy mạnh các hoạt động kinh tế, tạo thêm nguồn tài chính;
               - Tăng cường và mở rộng hợp tác với Công đoàn các nước và các tổ chức quốc tế thuộc các xu hướng khác nhau nhằm cùng phấn đấu cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì lợi ích người lao động và sự lớn mạnh của tổ chức Công đoàn Việt Nam;
               Đại hội đã bầu 125 đồng chí vào Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. BCH đã bầu Đoàn Chủ tịch gồm 15 đồng chí: Nguyễn Văn Tư, Nguyễn An Lương, Hoàng Thị Khánh, Vũ Tất Ban, Nguyễn Mậu Bành, Đặng Ngọc Chiến, Hoàng Vĩnh Cửu, Nguyễn Văn Dũng, Trần Quang Giao, Trần Thị Hồng, Đỗ Đức Ngọ, Vũ Kim Quỳnh và Huỳnh Kim Sơn. Đồng chí Nguyễn Văn Tư, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu lại làm Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Đồng chí Cù Thị Hậu, Ủy viên Trung ương Đảng - Phó Chủ tịch thường trực; các đồng chí Hoàng Minh Chúc, Nguyễn An Lương, Hoàng Thị Khánh được bầu làm Phó Chủ tịch.
                  Đại hội cũng bầu ra Ủy ban Kiểm tra Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa VII gồm 11 Ủy viên, đồng chí Vũ Kim Quỳnh - Ủy viên Đoàn Chủ tịch được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TLĐ.
 
 
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VIII
 
                   Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VIII họp từ ngày 3 đến 6/11/1998, được tổ chức trọng thể tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt - Xô, Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội gồm 898 đại biểu của 80 đoàn (61 LĐLĐ tỉnh, thành phố và 18 Công đoàn ngành nghề toàn quốc về dự và 1 đoàn của cơ quan TLĐ), 31 đoàn đại biểu quốc tế, đại diện Tổ chức Liên hiệp Công đoàn thế giới, đại biểu công đoàn các nước trong khu vực và các đoàn ngoại giao. Tới dự Đại hội có các đồng chí Lê Khả Phiêu, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đồng chí Trần Đức Lương, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Chủ tịch nước; đồng chí Phan Văn Khải, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Nông Đức Mạnh, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội và nhiều đại biểu đại diện các đoàn thể quần chúng.
                  Đại hội đề ra mục tiêu: “Vì sự nghiệp CNH, HĐH đất nướcvì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh”. Xây dựng giai cấp công nhân thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển về số lượng và chất lượng, làm nòng cốt trong việc xây dựng khối liên minh vững chắc với nông dân và trí thức; ra sức phát triển đoàn viên trong các thành phần kinh tế, tiếp tục xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, nâng cao trình độ cán bộ công đoàn; tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội, xây dựng luật pháp, chính sách có liên quan đến CNVCLĐ, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh phong trào thi đua sôi nổi, động viên CNVCLĐ phát huy nội lực phát triển kinh tế - xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, theo con đường xã hội chủ nghĩa.
                   Đại hội VIII Công đoàn Việt Nam đề ra 6 nhiệm vụ chủ yếu sau:
                 - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, tập hợp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh, vững vàng về chính trị, giác ngộ về giai cấp, thiết tha gắn bó với tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, có trình độ làm chủ khoa học công nghệ hiện đại, xứng đáng là giai cấp lãnh đạo cách mạng, giữ vai trò nòng cốt trong khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức và khối đại đoàn kết dân tộc.
                - Phát động phong trào hành động cách mạng sâu rộng trong công nhân, viên chức, lao động hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước với khẩu hiệu: “Tất cả vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đó là các phong trào: “Lao động giỏi với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động”; phong trào “Học tập nâng cao trình độ mọi mặt, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; phong trào “thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống các tệ nạn xã hội” phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
               - Ra sức xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, phấn đấu đến năm 2003 ở khu vực hành chính sự nghiệp, kinh tế Nhà nước ít nhất có 90% công nhân, viên chức, lao động vào tổ chức Công đoàn. Nâng cao chất lượng Công đoàn cơ sở vững mạnh. 100% khu vực liên doanh, đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài có đủ điều kiện thành lập Công đoàn cơ sở và 60% số cán bộ công nhân, viên chức, lao động là đoàn viên công đoàn. Khu vực kinh tế tư nhân có ít nhất 50% số đơn vị có tổ chức Công đoàn và trên 50% số công nhân, viên chức, lao động vào Công đoàn; có từ 50% số Công đoàn cơ sở đạt tiêu chuẩn vững mạnh; phấn đấu đến năm 2003 có 100% số cán bộ công đoàn chủ chốt và Chủ tịch công đoàn cơ sở được qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn.  
              - Nêu cao vai trò, vị trí của tổ chức Công đoàn trong việc chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân lao động. Tập trung trí tuệ, cán bộ tham gia nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật và các chế độ về các chính sách về lao động, tiền lương, tiền công, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, đào tạo và đào tạo lại các ngành nghề và các chính sách xã hội khác; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với lao động nữ. Tham gia củng cố, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước nhằm làm cho các doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả và phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Tích cực cùng với Nhà nước thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp, tạo điều kiện cho công nhân, viên chức, lao động tìm kiếm, mở mang các hoạt động dịch vụ, sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, góp phần xóa đói giảm nghèo trong công nhân, viên chức, lao động và bảo vệ quyền lợi người lao động Việt Nam đang lao động hợp tác ở nước ngoài. 
             - Vận động công nhân, viên chức, lao động tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Tham gia có hiệu quả trong công cuộc cải cách hành chính, chống quan liêu, lãng phí, chống tham nhũng, buôn lậu, thực hành dân chủ hóa; có kế hoạch bồi dưỡng công nhân và người lao động giỏi để giới thiệu cho Đảng.
              - Mở rộng và củng cố hoạt động đối ngoại nhằm tăng cường hữu nghị và hợp tác về mọi mặt, tranh thủ tối đa sự hỗ trợ từ bên ngoài với mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Đồng thời, tích cực đóng góp vào cuộc đấu tranh chung của người lao động và Công đoàn các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, phát triển và vì người lao động, vì quyền Công đoàn, vì dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội.  
                Với tinh thần làm việc khẩn trương sôi nổi, dân chủ và trách nhiệm cao trước giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn cả nước. Đại hội đã bầu 145 đồng chí, vào Ban Chấp hành TLĐ khóa VIII. Ban Chấp hành đă bầu Đoàn Chủ tịch gồm 17 đồng chí: Cù Thị Hậu, Nguyễn An Lương, Đặng Ngọc Chiến, Đỗ Đức Ngọ, Nguyễn Đình Thắng, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Văn Dũng, Trần Quang Giao, Trần Thị Hồng, Vũ Khang, Nguyễn Hữu Lợi, Nguyễn Thị Luật, Vũ Tiến Sáu, Huỳnh Kim Sơn, Đặng Ngọc Tùng, Nguyễn Viết Vượng và Hoàng Văn Yên. Đồng chí Cù Thị Hậu, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam; đồng chí Nguyễn An Lương - Phó Chủ tịch thường trực; các đồng chí Đặng Ngọc Chiến, Đỗ Đức Ngọ, Nguyễn Đình Thắng được bầu làm Phó Chủ tịch.
                  Đại hội cũng bầu ra Ủy ban Kiểm tra Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa VIII gồm 13 Ủy viên do đồng chí Vũ Khang làm Chủ nhiệm.
                  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VIII nhiệm kỳ 1998 - 2003 là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển giao nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn giữa hai thế kỷ. 
 
 
 
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IX
 
 
                    Đại hội Công đoàn Việt Nam lần IX họp từ ngày 10 - 13/10/2003, tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt - Xô, thủ đô Hà Nội. 900 đại biểu ưu tú, đại diện cho hơn 4,2 triệu đoàn viên đã về dự Đại hội. Đại hội vinh dự được đón tiếp đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, các đồng chí nguyên là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể khác, cùng 31 đoàn đại biểu Công đoàn quốc tế và Công đoàn các nước, đại diện đoàn ngoại giao, tổ chức quốc tế và phi chính phủ có quan hệ với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tới dự. Đồng chí Tổng bí thư đă phát biểu ý kiến chỉ đạo Đại hội và đã trao tặng Đại hội bức trướng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: “Giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam đoàn kết, lao động sáng tạo, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
                   Khẩu hiệu hành động của tổ chức Công đoàn trong thời kỳ mới là: Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, góp phần tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
                   Đại hội đã đề ra mục tiêu và phương hướng tổng quát của tổ chức Công đoàn trong nhiệm kỳ 2003 - 2008:
                  Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới; củng cố và phát triển sâu rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước sôi nổi, rộng khắp, thiết thực và có hiệu quả trong CNVCLĐ; Tham gia quản lý, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ; đẩy mạnh phát triển đoàn viên và tổ chức CĐ trong các thành phần kinh tế; nâng cao năng lực và trình độ cán bộ công đoàn; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng tổ chức CĐ vững mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
                  Nhiệm vụ chủ yếu của Công đoàn nhiệm kỳ 2003 - 2008 là:
               - Tuyên truyền giáo dục, góp phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới. Tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước.
               - Chủ động tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát có hiệu quả việc thực hiện pháp luật, chế độ chính sách có liên quan trực tiếp đến CNVCLĐ và quy chế dân chủ ở cơ sở; đẩy mạnh công tác chăm lo đời sống, làm tốt chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ.
              - Tổ chức sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, trọng tâm là phong trào lao động giỏi, lao động sáng tạo trong CNVCLĐ, góp phần hoàn thành thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước.
             - Phát triển đoàn viên và xây dựng tổ chức CĐ vững mạnh; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của tổ chức CĐ cho phù hợp với từng loại hình cơ sở, từng cấp CĐ; nâng cao năng lực và trình độ cán bộ CĐ.
             - Mở rộng hoạt động đối ngoại của Công đoàn Việt Nam.
            Đại hội IX Công đoàn Việt Nam là Đại hội “Đoàn kết, trí tuệ, dân chủ, đổi mới, thể hiện ý chí và nguyện vọng to lớn của giai cấp công nhân, của đội ngũ CNVCLĐ và tổ chức Công đoàn Việt Nam bước vào thế kỷ và thiên niên kỷ mới.
              Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 150 Ủy viên. Ban Chấp hành khoá IX đã bầu ra 19 Ủy viên Đoàn Chủ tịch gồm: Đồng chí Cù Thị Hậu, Đặng Ngọc Tùng, Đỗ Đức Ngọ, Nguyễn Đình Thắng, Đặng Ngọc Chiến, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Văn Dũng, Vũ Khang, Nguyễn Viết Vượng, Hoàng Văn Yên, Hoàng Ngọc Thanh, Lê Vân Trình, Đỗ Đăng Hiếu, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Huy Cận, Nguyễn Thị Kim Hải, Nguyễn Thế Phúc, Phan Viết Thông và Phan Thị Thu Vân. Đồng chí Cù Thị Hậu, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu lại làm Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Đồng chí Đặng Ngọc Tùng - Phó Chủ tịch thường trực; các đồng chí Đặng Ngọc Chiến, Đỗ Đức Ngọ, Nguyễn Đình Thắng, Nguyễn Hòa  Bình được bầu làm Phó Chủ tịch.
Ban Chấp hành bầu Ủy ban kiểm tra Tổng Liên đoàn gồm 11 đồng chí, đồng chí Vũ Khang, Ủy viên Đoàn Chủ tịch TLĐ được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra.
 
 
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ X
 


 
                 Đại hội X Công đoàn Việt Nam diễn ra từ ngày 02 - 5/11/2008 tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô, Hà Nội. Tham dự Đại hội có 985 đại biểu chính thức. Đại hội vinh dự được đón tiếp đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, các đồng chí nguyên Tổng Bí thư và lãnh đạo lão thành của Đảng, Nhà nước; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư TW Đảng; các đồng chí lãnh đạo Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể khác, cùng 20 đoàn đại biểu Công đoàn quốc tế và Công đoàn các nước, đại diện đoàn ngoại giao, tổ chức quốc tế và phi chính phủ có quan hệ với Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tới dự. Đồng chí Tổng Bí thư đã phát biểu ý kiến chỉ đạo Đại hội và đã trao tặng Đại hội bức trướng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: “Công đoàn Việt Nam đổi mới, sáng tạo; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động; vì  sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước”.
                 Đại hội X Công đoàn Việt Nam là Đại hội đầu tiên của thời kỳ đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế; nước ta chính thức là thành viên WTO; là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; giai cấp công nhân và cán bộ, đoàn viên, công đoàn cơ sở phát triển nhanh; Ban Chấp hành TW Đảng ban hành Nghị quyết về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
              Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá toàn diện, khách quan tình hình phong trào công nhân, viên chức, lao động và kết quả hoạt động Công đoàn trong 5 năm (2003 - 2008), phân tích những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm từ quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội IX CĐVN và đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ hoạt động Công đoàn nhiệm kỳ tới (2008 - 2013). Các đại biểu đã thảo luận sôi nổi, bàn các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động Công đoàn, thực hiện tốt chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên và người lao động, phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, nâng cao vị thế của Công đoàn Việt Nam trong hệ thống chính trị và trên trường quốc tế. Có 47 bản tham luận được gửi tới Đại hội, có 11 tham luận được trình bày trực tiếp tại Đại hội, 268 lượt ý kiến phát biểu về 24 vấn đề tại các tổ. Nhiều nội dung tham luận đã đi thẳng vào những vấn đề bức xúc hiện nay của công nhân lao động và tổ chức Công đoàn. Đại hội xác định nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của tổ chức Công đoàn hiện nay là đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ.
                   Tại Đại hội, các đại biểu cũng đã tập trung thảo luận, cho ý kiến, biểu quyết Điều lệ Công đoàn Việt Nam (bổ sung, sửa đổi), trong đó tập trung vào: Nhiệm kỳ Đại hội Công đoàn cơ sở; Về cán bộ công đoàn; Công đoàn cơ sở trong đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; Công đoàn giáo dục huyện; Công đoàn cơ sở các cơ quan Trung ương.
                 Khẩu hiệu hành động của tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời gian tới: “Công đoàn Việt Nam đổi mới, sáng tạo; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động; vì sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước”8 nhóm chỉ tiêu phấn đấu trong nhiệm kỳ X với các chương trình hành động cụ thể cũng đã được thông qua.
                  Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa X gồm 160 đồng chí. Tại phiên họp thứ nhất, Ban Chấp hành TLĐ khóa X đă bầu Đoàn Chủ tịch TLĐ gồm 21 đồng chí; Ủy ban kiểm tra TLĐ gồm 13 đồng chí. Đồng chí Đặng Ngọc Tùng được bầu làm Chủ tịch TLĐ. Đồng chí Đỗ Xuân Học được bầu làm Chủ nhiệm UBKT.
                   Nhiệm vụ chủ yếu của Công đoàn Việt Nam nhiệm kỳ 2008 - 2013
                   1. Đại diện, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ. Đây là nhiệm vụ được xác định quan trọng hàng đầu.
                Chủ động tham gia xây dựng và kiểm tra, giám sát việc thực hiện những chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến CNVCLĐ. Trước mắt là chính sách về nhà ở, chính sách bảo đảm việc làm, tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, xây dựng nhà trẻ, mẫu giáo và các thiết chế văn hóa phục vụ công nhân lao động. Phối hợp chặt chẽ với người sử dụng lao động tổ chức thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tổ chức Đại hội công nhân, viên chức, Hội nghị cán bộ, công chức, Hội nghị người lao động.
Hướng dẫn, giúp đỡ công nhân, lao động giao kết Hợp đồng lao động; đại diện tập thể người lao động đối thoại, thương lượng, ký kết và tổ chức thực hiện Thỏa ước lao động tập thể với nội dung quy định có lợi hơn cho người lao động; đẩy mạnh việc ký Thỏa ước lao động tập thể cấp tổng công ty, tiến tới thực hiện ký Thỏa ước lao động tập thể cấp ngành nghề toàn quốc. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu, tổ chức thực hiện các biện pháp xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, phòng ngừa tranh chấp lao động, đình công tự phát tại doanh nghiệp…
                  2. Tuyên truyền, giáo dục công nhân, viên chức, lao động góp phần xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh. Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của Tổng Liên đoàn thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
                 3. Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước trong CNVCLĐ: Tập trung 5 phong trào và một cuộc vận động: “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”,  “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “Thi đua phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn”, “Thi đua học tập nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển”, “Xanh - sạch - đẹp, đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động”, cuộc vận động xây dựng người cán bộ, công chức, viên chức “Trung thành, sáng tạo, tận tụy, gương mẫu”…
                   4. Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Công đoàn và đội ngũ cán bộ Công đoàn.
                   5. Công tác vận động nữ CNVCLĐ.
                   6. Công tác tài chính và hoạt động kinh tế.
                    7. Công tác đối ngoại Công đoàn.
                   8 nhóm chỉ tiêu phấn đấu của Công đoàn Việt Nam trong nhiệm kỳ 2008 - 2013
                 1. Hàng năm có 100% cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp Nhà nước tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức; có 90% trở lên số doanh nghiệp Nhà nước tổ chức Đại hội công nhân, viên chức; trên 50% số công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn tổ chức Hội nghị người lao động.
              2. Có 70% trở lên số công đoàn cơ sở doanh nghiệp tổ chức thương lượng với người sử dụng lao động, xây dựng, ký kết và tổ chức thực hiện Thỏa ước lao động tập thể, nhất là những nơi đông công nhân, lao động. Phấn đấu xây dựng và ký kết  Thỏa ước lao động tập thể cấp ngành.
                3. Tham gia cùng với cơ quan quản lý Nhà nước đào tạo đội ngũ công nhân để có 70% trở lên số công nhân được đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp; phấn đấu giảm số vụ tai nạn lao động nghiêm trọng chết người và bệnh nghề nghiệp; 65% trở lên số công nhân được tham gia bảo hiểm xã hội.
                 4. Giới thiệu mỗi năm ít nhất 90.000 công nhân ưu tú để cấp ủy Đảng bồi dưỡng, xem xét, kết nạp vào Đảng.
                5. Kết nạp mới ít nhất 1,5 triệu đoàn viên. Đến hết năm 2013, có 70% số doanh nghiệp đủ điều kiện theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam thành lập được công đoàn cơ sở và tập hợp được từ 60% trở lên số công nhân, viên chức, lao động trong doanh nghiệp gia nhập công đoàn.
                6. Phấn đấu 100% cán bộ công đoàn các cấp được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về lý luận, nghiệp vụ công đoàn.
              7. Phấn đấu tỷ lệ cán bộ nữ tham gia Ban Chấp hành công đoàn các cấp đạt 30% trở lên. Các công đoàn cơ sở và cấp trên trực tiếp cơ sở có từ 50% lao động nữ trở lên, nhất thiết phải có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.
              8. Hàng năm có trên 80% số công đoàn cơ sở ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp thuộc khu vực Nhà nước và 40% số công đoàn cơ sở ở khu vực ngoài Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt tiêu chuẩn “Công đoàn cơ sở vững mạnh”, trong đó có 10% đạt tiêu chuẩn “Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc”.
 
                                                                                                                                                                                                                                                                          www.congdoanvn.org.vn
    
 
 
HUY HIỆU CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
 
              Giai đoạn mới của cách mạng đặt ra cho giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam những nhiệm vụ lịch sử mới. Giai cấp công nhân đang cùng toàn dân tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước. Xuất phát từ vị trí của giai cấp công nhân và tính chất, vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa; huy hiệu Công đoàn Việt Nam cần được thay đổi cho thích hợp. Những hình tượng và màu sắc chủ yếu thể hiện trên huy hiệu mới của Công đoàn Việt Nam có ý nghĩa như sau:
              1. Bánh xe đặt ở trung tâm quả địa cầu tượng trưng cho giai cấp công nhân, giai cấp lãnh đạo cách mạng thế giới, đồng thời tượng trưng cho sự thống nhất của giai cấp công nhân quốc tế; giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế.
              2. Phía trên bánh xe có quốc kỳ Việt Nam, lá cờ tung bay được cách điệu theo hình bản đồ Việt Nam, mang ý nghĩa thiêng liêng là Tổ quốc Việt Nam thống nhất. Cán cờ đặt theo đường chếch, mang khí thế tiến lên phía trước của đội tiên phong cách mạng.
                 3. Bên trong bánh xe, hình tượng cái thước cặp đang đo một sản phẩm, hình tròn, nói lên tính chính xác và yêu cầu tiến quân vào khoa học kỹ thuật.
                 4. Hình quyển sách đặt ở phía trước bánh xe tượng trưng cho tri thức cách mạng của giai cấp công nhân.
                 5. Phía dưới hình tròn là cái đế, cách điệu thành giải cuốn, trong đó có chữ T.L.Đ (Tổng Liên đoàn), tạo thành một bố cục chặt chẽ.
                 6. Các màu sắc trên huy hiệu thể hiện tính truyền thống tươi, khỏe của dân tộc.
                 - Nền mặt bằng của huy hiệu màu vàng kim nhũ.
                 - Lá cờ màu đỏ tươi, ngôi sao màu vàng tươi.
                 - Giải cuốn có chữ T.L.Đ trên nền màu xanh công nhân.
                 - Bánh xe và thước cặp màu đen công nghiệp.
                 - Màu xanh làm nền bên trong thể hiện ước mơ hòa bình chân chính của nhân dân ta.
                - Quyển sách và đường kinh tuyến, vĩ tuyến của địa cầu màu trắng; sản phẩm trên được đo trong thước cặp bằng kim loại đang gia công nên màu trắng có dụng ý phân phối màu sắc trong toàn bộ huy hiệu cho cân bằng.
             7. Huy hiệu Công đoàn Việt Nam do họa sĩ Bùi Trang Chước thể hiện, có sự tham gia ý kiến của nhiều cán bộ, đoàn viên Công đoàn và Đoàn Chủ tịch Tổng Công đoàn và Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ ba thông qua.
                                                 
   www.congdoanvn.org.vn
 
 
 
 
 
             Tên gọi tổ chức Công đoàn Việt Nam qua các thời kỳ
             
             
             Công hội Đỏ                                           (1929 - 1935)
            Nghiệp đoàn Ái hữu                               (1935 - 1939)
            Hội Công nhân Phản đế                       (1939 - 1941)
            Hội Công nhân Cứu quốc                     (1941 - 1946)
           Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam    (1946 - 1961)
           Tổng Công đoàn Việt Nam                     (1961 - 1988)
           Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam     (từ 1988 đến ngày nay)
             
                       
                                                                                                                                                                                                                                                       www.congdoanvn.org.vn
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Tác giả bài viết: Thúy Hồng (sưu tầm)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

NHỮNG HOẠT ĐỘNG NỔI BẬT NĂM 2020
Danh mục
Đọc và suy ngẫm
Danh Mục
Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá thế nào về website thư viện tỉnh Sơn La?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập10
  • Hôm nay5,537
  • Tháng hiện tại12,702
  • Tổng lượt truy cập9,660,292
CHUYÊN MỤC SÁCH BÁO VỚI CUỘC SỐNG: Trường Sa - Hoàng Sa trong tâm thức người Việt
LIÊN KẾT THƯ VIỆN CÁC TỈNH
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây